Trở thành doanh nhân thành đạt sau 2.000 ngày thụ án ở Trại Ba Sao
Đó là anh Trần Xuân Mai, Giám đốc Công ty Gỗ mỹ nghệ Cơ khí đúc xuất khẩu - xây dựng (AMIEXCO). Trong căn phòng trưng bày bề bộn những sản phẩm mới ra lò, anh ngậm ngùi kể lại cho chúng tôi nghe đoạn đường đời dài chứa đựng bao nỗi đắng cay và vất vả mà cuộc đời anh đã nếm trải.
Đằng đẵng gần 8 năm trời, những người dân sống ở xã Ba Sao (Hà
Người chồng, phạm nhân may mắn đó là nhân vật chính của câu chuyện mà chúng tôi sắp kể dưới đây. Câu chuyện cảm động ấy đã đưa chúng tôi tìm về miền quê Ý
Thời trai trẻ lam lũ và đường đến Trại Ba Sao
Trần Xuân Mai sinh ra và lớn lên ở một vùng đất có truyền thống làm nghề sơn dầu, sơn mài Yên Tiến, Ý Yên, Nam Định. Mồ côi cha từ khi còn học lớp 5, ngay từ thuở thiếu thời, Mai đã sớm có ý thức tự lực và nuôi ước vọng làm giàu. Nhà nghèo, bố lại mất sớm, không có điều kiện theo học lên hết chương trình THPT, Mai bỏ học từ khi đang học lớp 7 để lao vào làm nghề kiếm sống.
Giám đốc Trần Xuân Mai (trái) giới thiệu sản phẩm được làm từ cây nứa.
Thôi thì đủ việc, đủ nghề Mai đều chấp nhận, từ việc đóng gạch đất, đốt vôi rồi sau đó đạp xe cả chục cây số vào tận Ninh Bình mua than đã qua lửa của Nhà máy Nhiệt điện về đóng gạch bi để bán. Sau những nghề trên, anh chuyển sang đi học nghề thợ mộc. Thời bao cấp khó khăn thiếu thốn trăm bề. Nhiều hôm bụng quắt lại vì đói, nhưng anh vẫn phải cắn răng kéo cưa để mong sao có được một cái nghề tử tế. Có được nghề thợ mộc, Mai ký hợp đồng đóng bàn ghế cho các cơ quan Nhà nước quanh vùng. Thế nhưng những đồng tiền thu được từ nghề mộc cũng chỉ đủ cho sinh hoạt hàng ngày của gia đình anh. Anh chuyển sang nghề vẽ tranh sơn mài truyền thống để bán.

Làm đủ mọi thứ nghề nhưng chẳng có nghề nào khấm khá. Năm 1985, anh nảy ra ý định làm hàng thủ công mỹ nghệ có chất lượng để xuất khẩu ra nước ngoài. Và anh nghĩ chỉ có con đường như thế mới thu được ngoại tệ và tạo được việc làm cho bà con trong xã. Quyết chí là làm, cuối năm 1986, anh lập một tổ hợp sản xuất thu hút 35 người vào làm nghề. Hàng hóa làm được bao nhiêu đem bán cho Công ty Mỹ nghệ Hà Nội để xuất khẩu ra nước ngoài.
Sau vài lô hàng thành công, cũng là dịp Đại hội Đảng lần thứ VI khai mạc, mở ra một bước ngoặt cho đất nước. Tại Đại hội đó, Đảng ta phát động công cuộc đổi mới, xóa bỏ quan liêu bao cấp, tạo hậu thuẫn để các thành phần kinh tế phát triển. Một luồng gió mới đã đến, Mai mạnh dạn viết đơn xin gặp Chủ tịch huyện và Chủ tịch tỉnh (hồi đó còn là tỉnh Hà Nam Ninh) để xin thành lập Xí nghiệp Dân doanh Quyết Tiến. Không ngờ ngay sau đó, đơn của anh đã được các cấp chính quyền chấp thuận. Đó là xí nghiệp dân doanh đầu tiên của tỉnh Hà Nam Ninh lúc bấy giờ.
Nhưng cuộc đời không giúp anh có được sự suôn sẻ buổi ban đầu. Sự xuất hiện của một xí nghiệp tư nhân do anh làm giám đốc thời kỳ đó đã gây "sốc" đối với người dân địa phương. Tư duy cũ, nếp nghĩ cũ của người dân quê lúc đó không chấp nhận có một anh tư nhân đứng lên làm chủ doanh nghiệp. Thế rồi, có ngày ở đây có hàng chục đoàn người đã kéo nhau lên xã, lên huyện để kiện cáo, chất vấn lãnh đạo địa phương "hà cớ gì lại cho thành lập xí nghiệp dân doanh?".
Cũng phải nói thêm rằng, vào thời điểm đó, ngay tại xã Yên Tiến cũng đang tồn tại một hợp tác xã thủ công mỹ nghệ. Người dân lúc bấy giờ vẫn nặng suy nghĩ của thời bao cấp. Họ không chấp nhận tư nhân làm kinh tế và đặc biệt là sự cạnh tranh trực tiếp của mô hình này bên cạnh tập thể. Chưa hết, người dân trong làng còn kéo nhau ra rào kín cổng xí nghiệp của anh. Để giải quyết êm thấm được vụ việc, đích thân Chủ tịch xã Yên Tiến hồi đó phải đứng ra vận động, giải thích suốt mấy ngày liền, khoảng nửa tháng sau thì "lệnh cấm vận" này mới được dỡ bỏ.
Nhớ về thời đó tại buổi tiếp xúc với chúng tôi, Trần Xuân Mai dẫn ra một câu chuyện. Theo anh kể thì ngay sau Đại hội Đảng lần thứ VI kết thúc, ông Bùi Xuân Sơn, Bí thư Huyện ủy huyện Ý Yên lúc đó gọi anh lên và ngỏ lời sẵn sàng nhận anh về làm việc tại Công ty Ngoại thương hoặc Phòng Công nghiệp huyện, một vị trí khá “hời” hồi bấy giờ nhưng anh đã từ chối với lời giải thích: "Nghị quyết của Đảng đã chỉ rõ phát triển về kinh tế nhiều thành phần. Chú cứ để cháu làm doanh nghiệp tư doanh, bởi từ lâu cháu đã mơ ước được làm ông chủ góp phần xây dựng quê hương".
Nhưng cuộc đời đâu có học được hết chữ ngờ, sau bốn năm làm giám đốc xí nghiệp tư doanh, từ vị trí một ông chủ đang ăn nên làm ra, anh đã trở thành một phạm nhân với mức án hơn 10 năm tù.
Theo những tài liệu mà chúng tôi có được thì hồi đó, sau khi thành lập doanh nghiệp, Mai bắt tay vào việc tìm thị trường, liên kết làm ăn. Theo đó vào những năm 1987, 1988 và đầu năm 1989, đơn vị của anh ký hợp đồng sản xuất hàng cung ứng cho các tổng công ty lớn để xuất khẩu sang thị trường Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu. Những năm đầu làm ăn suôn sẻ, hàng làm ra đến đâu tiêu thụ đến đó, đời sống, việc làm của người lao động được đảm bảo. Thế nhưng ngày vui ngắn chẳng tày gang, từ quý II năm 1989 do biến động về chính trị ở các nước XHCN Đông Âu và sau đó là Liên Xô khiến các hợp đồng kinh tế bị chấm dứt, kéo theo một loạt các hợp đồng mà đơn vị anh đã ký phải ngưng trệ.--PageBreak--
Trong khi đó, một khối lượng lớn hàng hóa do xí nghiệp đã sản xuất trước đó theo hợp đồng ký kết phải nằm đắp chiếu tại kho bãi ở Cảng Hải Phòng và xí nghiệp. Đó cũng là toàn bộ số vốn liếng của gia đình anh. Do không xuất khẩu được nên hàng trăm chủng loại hàng hóa do xí nghiệp sản xuất đã phải bán lại với giá củi đun.
Xí nghiệp hoạt động cầm chừng, công nhân nghỉ việc. Công việc làm ăn lâm vào cảnh thua lỗ, nợ nần chồng chất... Hơn 300 triệu vay ngân hàng để mở rộng sản xuất, đến năm 1991 lãi mẹ đẻ lãi con đã lên đến hơn 1 tỉ đồng. Do không trả được món nợ vay ngân hàng nên tháng 5/1991, vị giám đốc có máu làm giàu này đã phải nuốt hận vào Trại giam Ba Sao. Biết là đau lắm, nhưng Trần Xuân Mai đã phải chấp nhận. Đây chính là thời gian để anh suy ngẫm những khiếm khuyết trong bước đường làm ăn, bổ túc thêm các kiến thức về pháp luật và quản lý kinh tế.
2.000 ngày chờ chồng trong cay đắng
Chị Năm trong câu chuyện với chúng tôi đã kể rằng: 2.000 ngày anh Mai, chồng chị thụ án trong trại cải tạo là quãng thời gian mẹ con chị chịu bao cơ cực. Lấy nhau chỉ kịp sinh một đứa con, chồng đã bị bắt, bao dư luận xấu đồn thổi đè nặng trên vai chị. Vốn liếng không, căn nhà đang ở bị ngân hàng xiết nợ, xí nghiệp đành phải đóng cửa. Cả một nhà máy cơ ngơi như thế giờ đây được định giá để bán sắt vụn. Khi thành lập, xí nghiệp mua một dàn máy 150 triệu đồng. Thế nhưng khi định giá thì 27 chiếc máy tại đây, bất kể máy to, máy nhỏ cũng được tính chung mỗi máy 1 triệu đồng.
Chồng đi tù, tài sản trắng tay, một nách là con thơ dại; người vợ trẻ đó đã phải chống chọi, chịu đựng những áp lực cơm áo gạo tiền và sự thiếu thốn về tinh thần tưởng chừng như không thể vượt qua. Đã nhiều đêm nằm ôm con, gác tay lên trán mà chị cứ giàn giụa nước mắt, chẳng thiết sống để làm gì. Nhiều lúc chị cảm thấy mệt mỏi và tuyệt vọng đến quẫn cùng. Ngày Tết nhìn cảnh nhà hàng xóm đông đủ, quây quần sung túc, ngó lại gia cảnh nhà mình, không suy nghĩ sao được.
Không nhà cửa, không tài sản, chị đành phải sang các xã bên để làm thuê làm mướn. Mỗi tháng chắt bóp dành dụm được vài trăm ngàn. Số tiền đó tằn tiện đủ để nuôi con và hàng tháng vào thăm nuôi chồng. Trong những ngày khốn khó đó, chị vẫn có niềm tin. Chính nhờ niềm tin nhiều lúc cũng rất mong manh ấy đã giúp chị có thêm sức lực đi tiếp những tháng ngày khốn khó.
Có lẽ thế mà đằng đẵng gần 8 năm trời ròng rã, những người dân sống ở xã Ba Sao quá quen thuộc với hình ảnh một người phụ nữ trẻ hơn 30 tuổi, bế đứa con nhỏ hơn một tuổi tìm đến Trại Ba Sao để thăm nuôi chồng. Chị tiết kiệm đến mức không dám bỏ tiền đi xe ôm mà bế con đi bộ hết quãng đường 3km đồi dốc để dành những đồng tiền ít ỏi cho chồng. Không ít lần, vừa đi chị vừa giàn giụa nước mắt và tưởng chừng như mình sẽ quỵ ngã trên con đường dốc dẫn vào trại giam. Những khó khăn chồng chất của cuộc sống hàng ngày, những ánh mắt và sự gièm pha của dư luận đã trở thành gánh nặng đối với người vợ trẻ.
Gần 8 năm tương ứng với 2.000 ngày đắng cay mà người vợ trẻ phải chịu đựng. Có những vất vả, đắng cay đo đếm được, nhưng cũng có những mất mát, chịu đựng không thể nói ra. Có lẽ chỉ có tình chồng vợ đã giúp cho người đàn bà đó có thêm sức lực, niềm tin để đi hết một quãng đường dài 8 năm ròng rã. Và cuối cùng niềm tin ấy của chị đã được đền đáp.
Cho đến hôm nay, sau nhiều năm, nhưng khi tiếp xúc với chúng tôi, nhận xét về phạm nhân Trần Xuân Mai, các cán bộ Trại giam Ba Sao đều xác nhận đó là một con người có chí hướng, rất quyết tâm để làm lại cuộc đời. Là một phạm nhân rất giỏi về nghề sơn mài, thủ công mỹ nghệ và đặc biệt luôn cố gắng cải tạo tốt nên trong thời gian thụ án, Mai được Ban giám thị cho hưởng chế độ "tự giác". Trại tổ chức lớp dạy nghề cho phạm nhân và giao cho anh trực tiếp dạy nghề sơn mài. Nhiều sản phẩm của anh và các phạm nhân hiện vẫn đang được lưu giữ tại đây. Rất đẹp và không kém phần tinh xảo, nhưng giá trị hơn là chính những sản phẩm này đã góp phần để đưa những phạm nhân lầm lỗi như anh trở lại với cuộc đời.
Trần Xuân Mai tâm sự: Có được sự thành đạt ngày hôm nay, tôi rất biết ơn Đảng, Nhà nước, đặc biệt là Ban giám thị Trại Ba Sao và các cán bộ quản giáo hồi đó đã tạo điều kiện cho tôi làm lại cuộc đời. Những buổi sinh hoạt, đọc sách báo, lao động, cải tạo... trong trại giam đã giúp cho anh Mai có thêm nghị lực về một ngày mai, nắm vững hơn những kiến thức về luật pháp và các chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước. Chính nhờ sự cải tạo tốt, nhân dịp Quốc khánh 2/9/1998, anh là một trong số những phạm nhân được hưởng chính sách đặc xá của Đảng và Nhà nước. Bước chân ra khỏi Trại Ba Sao sau gần 8 năm trời cách biệt với xã hội bên ngoài, anh ứa nước mắt.--PageBreak--
Trong câu chuyện với chúng tôi tại trụ sở công ty, anh kể rằng, kỷ niệm mà anh nhớ nhất của ngày ra trại chính là cuộc phỏng vấn của Đài Truyền hình Việt
Đứng lên từ con số không tròn trĩnh
Sau khi rời Trại Ba Sao trở về quê cũ, nhìn trước ngó sau, vợ chồng anh chẳng thấy tài sản gì có giá trị. Nhà ở nhờ bố mẹ, số tài sản ít ỏi còn lại cũng đã phải bán đi từ trước khi anh nhập trại. Trong nhà lúc này vẻn vẹn chỉ có mấy tạ thóc, vợ anh bán được một triệu đồng. Anh tổ chức một bữa liên hoan anh em hàng xóm láng giềng hết 270 ngàn đồng. Số tiền còn lại, chị đưa cho anh giắt lưng làm vốn.
Chỉ bốn ngày sau khi ra trại, anh vào thị xã Ninh Bình mua cho mình một chiếc cặp Samsonai và đến Công an tỉnh
Với quyết tâm đó, ra trại chỉ vài hôm, anh đã phải tạm thời xa quê hương đến một số tỉnh phía Bắc tìm việc làm. Thời gian đầu do không có vốn, anh chấp nhận đi làm thuê và tìm kiếm các hợp đồng để làm ăn. Anh nhận các hợp đồng quét vôi ve, bả ma tít, sơn cửa, kẻ biển báo ở khắp các tỉnh, thành... Có được hợp đồng, anh về địa phương đưa thêm nhân công đi cùng. Có những chuyến đi hàng tháng trời anh mới về nhà một lần. Năm đầu tiên sau khi ra tù, Tết đến hai vợ chồng tổng kết lãi được 165 triệu.
Đã quá thấm thía bài học của việc kinh doanh nhưng mù luật, thiếu kinh nghiệm, nên lần này anh Mai rất thận trọng. Năm 2000, khi Luật Doanh nghiệp có hiệu lực, xin được quyển luật trong tay, về nghiền ngẫm kỹ, anh quyết định thành lập Công ty Gỗ mỹ nghệ Cơ khí đúc xuất khẩu - xây dựng (tên giao dịch AMIEXCO). Trụ sở công ty được xây dựng ngay chính tại quê hương anh. Ngành nghề kinh doanh chủ yếu là: Hàng thủ công mỹ nghệ sơn dầu, sơn mài tre nứa ghép xuất khẩu và sản xuất các loại biển báo an toàn cho ngành Điện lực, xây lắp đường điện 35kv. Trong đó, lĩnh vực sơn mài tre nứa ghép xuất khẩu đang là một thế mạnh nhất của đơn vị.
Những ngày đầu mới thành lập công ty, mặt hàng tre nứa ghép khi sản xuất ra chủ yếu cũng chỉ mới tiêu thụ trong nước. Vào thời điểm ấy, việc đưa mặt hàng này xuất khẩu ra nước ngoài cũng đang mới mẻ. Nhận thấy đây là một lĩnh vực đầy tiềm năng, anh mạnh dạn bỏ tiền thuê phiên dịch và mang theo hàng mẫu sang trưng bày tại Hội chợ quốc tế tổ chức tại Franfurt (Đức).
Tại đây ghi nhận tất cả ý kiến đóng góp của khách hàng, tìm hiểu kỹ nhu cầu thị hiếu của thị trường, về nước, anh mày mò nghiên cứu mẫu mã, mạnh dạn cải tiến chuyển từ hàng mộc, hàng PU sang phun tinh mầu đa dạng trên các sản phẩm. Từ những thành công ban đầu được khách hàng nước ngoài chấp nhận, anh bước tiếp vào tổ chức sản xuất hàng loạt các sản phẩm trên dây chuyền hiện đại.
Tiếng lành đồn xa, do mẫu mã đẹp, lạ mắt lại tiện lợi, chất lượng tốt nên đã có hàng chục khách hàng tên tuổi từ thị trường các nước EU, Mỹ… tìm đến với doanh nghiệp của anh để ký hợp đồng làm ăn. Thời gian trôi đi, cho đến nay những sản phẩm của công ty đã có mặt tại hơn 30 nước trên thế giới, trong đó thị trường lớn nhất vẫn là các nước EU và Mỹ.
Ngoài tổng số cán bộ công nhân viên hơn 200 người thuộc đội ngũ có tay nghề kỹ thuật cao, đơn vị của anh còn thu hút khoảng 22 ngàn lao động nông nhàn trong các xã, huyện làm vệ tinh. Với những khát vọng làm giàu cho chính bản thân, đồng thời tạo việc làm cho những người khác, công ty anh đã mở rộng làng nghề tại hàng chục xã trong huyện, tỉnh và các tỉnh bạn...
Giám đốc Trần Xuân Mai và một khách hàng nước ngoài đến thăm công ty.
Trên con đường đất dẫn đến Trại Ba Sao hôm nay, vẫn luôn xuất hiện bóng dáng quen thuộc của một phạm nhân của hơn chục năm về trước. Chỉ có điều sự trở lại Trại Ba Sao của anh hôm nay không phải là một phạm nhân trong bộ áo sọc ngày nào mà trong vai trò một doanh nghiệp thành đạt được cả nước biết tiếng. Cảm thông hơn ai hết đối với những phạm nhân đang thụ án, từ năm 2004, anh Mai quyết định đầu tư máy móc, thiết bị và giáo viên vào các Trại giam Ba Sao (Hà Nam) và Ninh Khánh (Ninh Bình) để dạy nghề cho phạm nhân, mở rộng cơ ngơi sản xuất. Công ty anh cũng luôn mở rộng cánh cửa đón nhận những người mãn hạn tù trở về vào đây làm việc.

Với những thành tích đã đạt được trong sản xuất kinh doanh, năm 2004 công ty anh đã vinh dự được Chủ tịch nước tặng Huân chương Lao động hạng ba, được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen. Cũng trong năm này, Trần Xuân Mai đã đoạt giải "Sao Vàng đất Việt". Năm 2005, anh tiếp tục được nhận giải "Cúp vàng Doanh nghiệp trẻ Việt