Xuân về càng nhớ Trường Sa
Cùng với ấn tượng về ý chí, quyết tâm sẵn sàng chiến đấu bảo vệ biển đảo Tổ quốc, về tinh thần vượt lên khó khăn thiếu thốn (thiếu tình cảm người thân, thiếu nước ngọt, thiếu rau xanh…), sống lạc quan yêu đời của cán bộ, chiến sĩ các đảo, tôi còn có ấn tượng riêng về một số anh em. Xuân Nhâm Thìn đến, những ấn tượng đó càng sống lại trong tôi, khiến tôi càng nhớ Trường Sa da diết.
Tôi còn nhớ như in, hôm đặt chân lên đảo Cô Lin (đảo chìm), vừa thấy tôi, một chiến sĩ trạc 20 tuổi, nét mặt hiền lành, đã nhanh nhẹn đỡ lấy túi nilon đựng tư trang của tôi, xách lên nhà ở. Lát sau, anh nói với tôi: “Bố ơi, con mới ra đảo, chỉ có hai con ốc nón, xin tặng riêng bố, vì con đoán bố là người nhiều tuổi nhất đoàn công tác. Con đã bỏ ốc vào túi nilon của bố, buộc lại rồi!”.
Tôi sững sờ cảm động vì bất ngờ trước cách xưng hô của chiến sĩ nọ, chưa kịp nói lời cảm ơn thì anh đã chạy xuống xuồng, chuyển lương thực, thực phẩm vào nhà kho. Hỏi cán bộ trên đảo, tôi được biết người chiến sĩ tặng tôi ốc nón là Nguyễn Quang Thịnh, nhập ngũ tháng 3/1996, ra đảo Cô Lin tháng 1/1997. Anh thường xuyên hoàn thành tốt nhiệm vụ, năm 1997 được Lữ đoàn M46 tặng giấy khen. Hai con ốc nón mà Nguyễn Quang Thịnh tặng, tôi trân trọng đặt trong tủ từ bấy đến nay như kỷ vật quý của gia đình.
Đến đảo Sinh Tồn Đông, biết đảo trưởng Nguyễn Hữu Thành có nhiều đóng góp xây dựng đảo vững mạnh toàn diện, đồng nghiệp của tôi ở chương trình truyền hình Quân đội nhân dân đã tiến hành cuộc phỏng vấn ngắn. Đứng trước ống kính camera, Thành vã mồ hôi hột (ở Trường Sa dường như không có mùa đông như đất liền) phải nói đi, nói lại mới đạt yêu cầu. Tới giờ ăn trưa, anh trợ lý hậu cần lén mang lên mấy lon bia 333, là tiêu chuẩn Tết của anh em, mời chúng tôi. Tôi và các đồng nghiệp không đồng ý uống, đảo trưởng Nguyễn Hữu Thành rơm rớm nước mắt, buộc chúng tôi phải “chiều” anh.
Tôi cùng các đồng nghiệp đã được ngủ đêm trên các đảo Sinh Tồn Đông, Sinh Tồn, Nam Yết và Sơn Ca. Đêm trên đảo, cán bộ, chiến sĩ quây quần bên chúng tôi trò chuyện đến khuya. Nhiều anh em kể cho tôi nghe về quê hương, gia đình, bạn bè, người yêu. Những cán bộ trẻ và các chiến sĩ đều gọi tôi bằng “bố”. Có anh còn hỏi tôi có con gái lớn chưa để nhận làm con rể. Tôi hỏi về chuyện đón Tết trên đảo.
Anh em kể, được sự quan tâm của cả nước, Tết đến, các đảo đều có lợn để làm thịt bó giò, gói bánh chưng, có đỗ xanh ngâm giá và có cả rượu bia, bánh kẹo, thuốc, chè. Đêm giao thừa, ngoài lực lượng canh gác, tuần tra, sẵn sàng chiến đấu, số cán bộ, chiến sĩ còn lại được tề tựu trước tivi nghe Chủ tịch nước chúc Tết và xem hình ảnh đón Tết ở đất liền, rồi hái hoa xuân, vui văn nghệ. Ngày mồng một, mồng hai Tết, trên các đảo nổi đều tổ chức các trò vui như kéo co, đánh bóng chuyền, bóng bàn, cờ tướng để anh em vợi đi nỗi nhớ quê hương, gia đình.
Ở đảo Nam Yết, anh em kể cho tôi nghe về đảo phó quân sự Bùi Ngọc Thuyết. Anh Thuyết đã ra đảo hai đợt. Ngày anh xuống tàu ra đảo đợt 1 thì đứa con đầu của anh ở quê Hải Dương bị ốm rồi mất. Anh về phép sau đó ra đảo đợt 2 với hy vọng vợ ở nhà sẽ sinh con. Buồn thay, con tàu đưa chúng tôi ra Trường Sa mang theo niềm vui cho đại đa số cán bộ, chiến sĩ Trường Sa khi Tết đến, Xuân về lại mang tin dữ đến với Thuyết. Vợ anh viết thư báo tin bị sảy thai. Nhận thư, Thuyết giấu bặt vì không muốn đồng chí, đồng đội buồn lây. Anh lao vào làm việc để nỗi buồn lặn vào trong.
Rời đảo Nam Yết, tôi và đồng nghiệp đến đảo Đá Thị. Đảo trưởng Hồ Duy Mạnh, quê Thanh Hóa đã 38 tuổi, nhưng vẫn chưa có “mảnh tình vắt vai” vì từ ngày nhập ngũ đến 1998, hết ở đảo lại bán đảo, ít có điều kiện tiếp xúc với chị em để tìm hiểu. Tôi hỏi vào năm sau, anh có về phép, cưới vợ không, Mạnh chỉ cười.
Tới đảo Sơn Ca, cụm trưởng cụm 1 Bùi Hồng Truyền, người đã từng tham gia chiến đấu góp phần tiêu diệt quân Pôn Pốt ở Campuchia, và là chiến sĩ thi đua, nhưng khi tôi hỏi chuyện không chịu kể về mình mà chỉ kể về người vợ ở quê tần tảo lam làm nuôi hai con nhỏ và phụng dưỡng bố mẹ già. Anh cứ áy náy có tật ngủ “kéo gỗ” khiến mấy đồng chí cán bộ cao cấp ở Tổng cục Chính trị ra đảo hồi tháng 4/1997 không ngủ được.
Tôi còn gặp Trung đội trưởng thông tin Phạm Công Chức, dáng vẻ thư sinh, cứ níu kéo mấy anh em báo chí tới nhà trung đội uống chén rượu xuân. Khi tôi được đảo trưởng phân công đi uống ở nơi khác, mặt Chức buồn thiu. Lúc tôi xuống xuồng, ra tàu tạm biệt đảo, Chức dúi vào tay tôi lá thư. Lên tàu, tôi nhìn phong bì, hóa ra là thư Chức gửi cho tôi, bên trong là bài thơ Chức tặng tôi. Bài thơ anh đằm thắm tình đồng chí, đồng đội khiến tôi và đồng nghiệp khi đọc cảm động ứa nước mắt…
Một chiến sĩ nữa, tôi không bao giờ quên là Nguyễn Vũ Công ở đảo Đá Lớn. Công không những hoàn thành tốt nhiệm vụ mà còn say mê viết báo, làm thơ. Bài của Công từ Trường Sa gửi về đã được đăng Báo Nhân dân cuối tuần. Lúc chia tay, Công nhờ tôi chuyển một bài ký viết về người lính và thời tiết Trường Sa. Đọc bài ký của Công, tôi vừa cảm phục nghị lực cầm bút của anh vừa thấy anh viết khá sinh động.
Về đất liền, tôi đã chuyển bài ký tới Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Bài ký đã được đăng đầu năm 1999 và cuối năm được Tạp chí Văn nghệ Quân đội tặng thưởng. Sau này, theo gợi ý của tôi, Công đã đi học báo chí và hiện là phóng viên Báo Nông thôn ngày nay. Trước Tết Nhâm Thìn, tôi và Công đã ngồi với nhau ôn lại những kỷ niệm Trường Sa gian khổ nhưng rất đỗi tự hào.
Tết Nhâm Thìn này, những cán bộ, chiến sĩ Trường Sa tôi gặp vào dịp Tết Mậu Dần, có người đã trở thành cán bộ cao cấp, trung cấp quân đội tiếp tục làm nhiệm vụ bảo vệ biển đảo thân yêu, có người đã phục viên, chuyển ngành, nhưng mãi trong tôi, các anh vẫn là những chiến sĩ Trường Sa kiên cường, thân thiết như trong một đơn vị. Được đón Tết yên bình ở đất liền, tôi càng nhớ về các anh và nhớ đến các cán bộ, chiến sĩ Trường Sa hôm nay đang chắc tay súng bảo vệ biển trời Tổ quốc. Tôi hy vọng sẽ được khoác ba lô theo tàu ra Trường Sa một lần nữa để viết về quân dân trên quần đảo thân yêu