Lang thang sợi khói đốt thuyền

08:40 26/01/2012

Thuở nhỏ tôi không được gắn bó nhiều với biển. Sinh ra và lớn lên ở quê ngoại, hè, tết tôi mới có dịp về bên nội hít thở hơi nước biển mặn mòi. Cái làng chài nhỏ nhưng đông đúc ấy là xã Thạch Kim của huyện Lộc Hà, mới tách ra từ huyện Thạch Hà cũ. Dân "đi bạn" (đánh cá) của toàn xứ Hà Tĩnh thì vẫn quen gọi quê tôi một cách nôm na là Cửa Sót - nghe buồn buồn, côi cút.

Hồi 5 tuổi, được bố dắt ra bến đón thuyền "bạn" đi lộng trở về, thằng bé con móng tõe bùn non vùng chiêm trũng quê ngoại là tôi đã ngạc nhiên tròn mắt, không hiểu vì sao những con thuyền quê nội to thế, cồng kềnh thế mà vẫn nổi dập dềnh trên mặt nước.

Có lẽ đó cũng là câu hỏi nghiêm túc đầu tiên trong cuộc đời tôi. Giải thích cho trẻ con là điều không dễ, bố tôi chỉ đáp nôm na: "Thuyền phải nổi để còn ra khơi con ạ!". Dù chẳng theo một logic nào cả, câu của bố vẫn khiến tôi hết sức yên tâm, tin như chân lý, đủ để đốt lên trong lòng cơn khát trẻ thơ về những chân trời xa lạ.

Nắng vừa le lói, trên những thuyền câu đen trũi mới trở về sau một đêm đi lộng, thế nào đám con nít chúng tôi cũng sẽ lục lọi được mấy con tôm bạc, vài ba chú cua chú ghẹ đã nướng chín hoặc được “thả nước sôi” nằm sẵn trong khoang bếp của thuyền. Thích nhất là những chú mực ống nướng đỏ au và căng phồng. Cắn một miếng, nhồm nhoàm nhai và đưa tay áo quệt ngang, vệt mực đen vắt đến tận mang tai, chúng tôi ngó nhau cười nắc nẻ. Vị ngọt còn lan trên đầu lưỡi đến tận bây giờ, ngon hơn bất cứ loại mỹ vị nào trong nhà hàng đặc sản mà tôi từng nếm trên đời.

Thật ra, những con thuyền - quê tôi gọi là nôốc - chỉ bé tin hin như vắt mũi, oằn lưng cõng một cánh buồm nâu vá víu. Thuyền xứ Cửa Sót xưa không quét sơn. Ngày biển động, nó được kéo lên bãi nằm ghếch mũi, những cánh buồm, chiếc thúng câu được xếp gọn ghẽ trên mui. Sau khi cánh đàn ông cạo sạch lớp hà, hến bám trên lưng nôốc, và dặm vá lại mạn thuyền, những người đàn bà xứ biển lại lên núi, ra bãi vơ tấp - lá thông, lá phi lao khô - chất dưới đáy thuyền và đốt. Khói bay nghi ngút dọc triền cát trải dài. Sợ con thuyền bị đốt đau, tuổi thơ tôi đã toan chực trào nước mắt. Bố tôi bảo, phải đốt thế để mảnh hà, mảnh hến còn lại cũng sẽ chết nốt, không ăn ruỗng đáy thuyền. Lớp gỗ bên ngoài cháy lém đém thành một lớp than, đáy thuyền sẽ nhẹ và không thấm nước, thuyền mới nổi và ra khơi được. Tôi nghe, không chắc là hiểu hết, chỉ vừa đủ để mơ màng theo sợi khói "hui nôốc" giong cánh buồm và con thuyền đen như nhọ của tâm hồn mình ra khơi, xa và xa hơn nữa…

Bến nôốc là một vũng nước không sâu lắm, nằm khuất sau núi Nam Giới - thuở xa xưa là ranh giới tự nhiên của hai quốc gia Đại Việt - Chiêm Thành. Từ bến vào làng có một con lạch nhỏ chảy qua giữa một vùng cửa biển bồi lắng rộng mênh mông mỗi bề hơn vài cây số, chạy sát vào dưới chân rú Bờng thuộc xã Thạch Bằng, nay cũng cùng huyện Lộc Hà.

Trong sách "Đại Việt sử ký toàn thư", sử thần Ngô Sĩ Liên gọi rú Bờng là núi Bằng Lĩnh. Sách "Lĩnh Nam chích quái" cũng gọi đúng bằng tên ấy. Sách đã ghi thì không sai. Mà nếu có sai, chắc chắn ông Trần Trọng Kim, một nhà sử học lừng danh thế kỷ XX sinh ra ở làng Thạch Kim quê tôi hẳn đã đính chính rồi. Tôi vẫn tin là thế, sự thật phải là như thế. Đó là nơi đức Lộc Tục từ phương Bắc xuống giết con gà trắng thành tinh, đuổi thần Xương Cuồng dũng mãnh, trừ hại cho dân, tự lập làm vua xưng hiệu Kinh Dương Vương trở thành thủy tổ của tộc người Bách Việt.

Bến thuyền Cửa Sót ngày biển động.

Nhà của nội tôi nằm ngay bên mép bãi. Buổi sáng, nước cạn rặc, trơ con ngao con ngán. Chiều xuống triều lên, sóng vỗ óc ách vào sát taluy sân nhà kè đá cao những gần ba thước. Len theo triền cát mỏng chạy bên mép nước, những người đàn bà Thạch Kim gánh cá thuê, chạy chợ vẫn sấp ngửa đi về, liêu xiêu trong cuộc mưu sinh vất vả và bất tận.

Nhà bà Chắt Chu nằm ngay bên cạnh nhà nội tôi, chung nhau một hàng rào cắm sơ sài còi cọc. Khi tôi lớn, bà Chắt Chu đã già lắm. Tóc bà bạc trắng, lưng còng, mắt mũi lem hem, váy Đồng Lầm nhuộm bằng bùn non bạc thếch. Suốt ngày, bà Chắt Chu ngồi bó gối, phe phẩy quạt mo đuổi ruồi bên cái quán nước trống hoác dựng ngay bên taluy mép nước. Gọi hàng gọi quán cho oai, nhưng chỉ có một cái mẹt bày ra vài ba bao thuốc lẻ, ấm chè xanh không hẳn đã tươi, vài thanh kẹo cu đơ, kẹo vừng, kẹo bột. Buổi sáng sang trọng và phong phú hơn, trên mẹt còn bày dĩa bánh rán mà nói thật ra thì là cơm nguội ngào đường rán sơ sài trong chiếc chảo tráng qua một lớp dầu lạc mỏng đến mức không mỏng hơn được nữa.

Thấy anh em tôi từ “trên huyện" về thăm quê, thế nào bà Chắt Chu cũng xuýt xoa, có khi khóc nữa, rồi gọi lại dúi làm quà cho mỗi đứa một viên kẹo bột tẩm gừng cay. Bà cho, đứa nào cũng mừng rỡ đút ngay vào túi. Không nỡ ăn, chúng tôi chỉ lén lén chờ bà Chắt quay đi lại thả viên kẹo vào chỗ cũ - cái lọ con sứt mép, mất nắp đậy bày sẵn trên mẹt. Gọi buôn bán cho có cái nghề, hàng chỉ bày ra dọn vào như  quán tính, chứ nào có mấy ai mua. Lời lãi mỗi ngày của bà cùng lắm cũng chỉ ngang  giá mấy viên kẹo bột mà bà cứ nằng nặc giúi cho, thành thử chúng tôi không nỡ.

Năm 1975, khi tấm lưng của bà Chắt Chu đã bắt đầu còng xuống thì o Nhị - Lê Thị Nhị - con gái bà  mới trở về. Lúc đó, o đã 29 tuổi.  Phụ nữ làng chài thường lấy chồng rất sớm, cái tuổi của o khi đó, làng đã toan gọi… gái già. O cứ ở vậy, gánh cá, gánh tấp đốt thuyền thuê, rồi làm nghề dệt thảm len ngoài Hợp tác xã  Hải Đằng nuôi mẹ mà không chịu  lấy chồng. Ai hỏi thì o cười, nửa thật  nửa đùa, rằng "Nỏ có ai chịu lấy".

Năm 1967, đang là một vận động viên bóng chuyền, o Nhị xung phong nhập ngũ, vào thanh niên xung phong lấp hố bom, bạt núi mở đường, làm cọc tiêu dẫn xe qua ngầm, vượt hố trong những đêm trời tối không đèn. Đi qua chiến tranh, sức khỏe và nhan sắc của o gửi hết ở chiến trường. Dệt thảm khá nhanh tay, lành nghề, nhưng tấm thảm đời o thì cứ rối nùi chẳng biết đâu mà gỡ.

Năm 1982, o thôi dệt thảm cho hợp tác xã, về nghỉ, hưởng chế độ ít ỏi của  một thương binh 4/4.  Bà Chắt Chu đã già yếu, o thay mẹ ra trông quán nước, bày thêm vài lon bia, chai rượu gạo, lốc nước ngọt bán  cho cánh đàn ông đi "bạn" mỗi sáng về. Năm 2002, bà Chắt Chu quy tiên ở tuổi 92. Căn nhà tranh xiêu vẹo run bần  bật  bên mép biển mỗi lúc trời trở gió nồm, từ  đó chỉ còn lại mỗi mình o với phận không chồng côi cút. Cơ hồ đời như chiếc  bóng, cuộc sống đã quên mất o rồi.

Đùng một cái, cả xã Thạch Kim sôi sục. Chẳng hiểu từ đâu báo chí  bỗng phát hiện ra, o Lê Thị Nhị chính là nguyên mẫu của cô thanh niên xung phong trong bài thơ "Gửi  em cô Thanh niên xung phong" của nhà thơ Phạm Tiến Duật. Thì đây, "Em là cô gái Thạch Kim/ Sao lại đùa  bảo anh là Thạch Nhọn/ Đêm ranh mãnh ngăn cái nhìn đưa đón…./Cái miệng em  ngoa  cho bạn  em cười giòn/ Giọng Hà Tĩnh buồn cười  đáo để"…

Cả chục tờ báo cử  người đến  tìm o hỏi chuyện. Cuộc đời o bỗng dưng như trẻ lại, hạnh ngộ năm xưa tưởng đào sâu chôn  chặt cho riêng mình bỗng dưng lại ùa về, đầy ắp. Vào thanh niên xung phong, o Lê Thị Nhị được đưa về đơn vị C4 - P55, đóng tại Đức Thọ (Hà Tĩnh), sau  đó  chuyển về gần ngã  ba Đồng Lộc, huyện Can Lộc.

Một tối năm 1968, đường đang tắc, xe chưa qua được, có  một anh  bộ đội cao ráo, đẹp trai, mũi cao như Tây nhảy từ trên xe xuống hỏi chuyện làm quen với các o thanh niên xung phong đang vừa san lấp mặt đường vừa hát. Đám  nữ thanh niên xung phong vừa khúc  khích cười, vừa đùn đẩy, vừa đấm lưng nhau thùm thụp. "Các em quê ở đâu?". Bị bạn bè đẩy ra, o trả  lời đại: "Em quê ở Thạch… Nhọn!". Anh bộ đội thắc mắc: "Thạch Nhọn là đâu, tên lạ quá?". Các cô thanh niên lại đấm lưng nhau  cười. O  Nhị cũng cười: "Bên cạnh Thạch Bằng thì phải là Thạch Nhọn chứ răng  nữa. Là Thạch Kim đó, Kim nào mà không Nhọn?".

Bốn tháng sau, bài thơ "Gửi em, cô thanh niên xung phong" xuất hiện trên báo làm lay động tâm hồn cả  một thế hệ thanh  niên trong thời đại "cả nước cho tiền tuyến”. Chưa kịp vui vì vô tình gặp gỡ và trở thành nguồn cảm hứng cho một nhà thơ, o Nhị đã gặp rắc rối. Chỉ  huy đơn vị đã tìm và lần  được chính o, đem ra kiểm điểm "cái tội nói… dối, dám lừa bộ đội". Cái thời  nó vậy, o không buồn, nhưng từ đó về sau chẳng bao giờ còn đem  chuyện gặp nhà thơ ra kể  nữa…

Rất nhiều người đã gọi điện, viết thư về động viên, chia sẻ cùng o. Tấm lòng  cảm thông của bạn đọc yêu thơ đã giúp o đổi được mái  nhà tranh xiêu xó thành một ngôi nhà, nhỏ thôi, nhưng tường xây, mái lợp ngói đàng hoàng. Nhà thơ Phạm Tiến Duật cũng đôi lần gọi điện về, ngỏ ý mời cô gái Thạch… Nhọn ra thăm Hà Nội. O Nhị bảo mừng lắm, run lắm nhưng cứ hẹn lần lữa mà không đi  được. 

Mãi đến ngày 18/11/2007, o mới thực hiện được lời hẹn. Lần gặp duy nhất diễn ra tại Viện Quân y 108 Hà Nội. Chỉ mỗi mình o nhận biết được cuộc hội ngộ và khóc như mưa gió. Nhà thơ Phạm Tiến Duật đang trong cơn vật vã vì ung thư phổi.  Chỉ hơn hai tuần sau, ngày 4/12/2007, nhà thơ ra đi. Biết tin, o Nhị không khóc  nổi.

O đã  lui cui dọn  dẹp căn  nhà, dành một góc lập bàn thờ  cho người thiên cổ.  Nhưng nghĩ thế nào lại thôi. Khói hương đành riêng thắp trong lòng. O  ngại tiếng thị phi.  Báo chí cũng lại tìm ra  một cô thanh niên xung phong khác, tên là Phạm Thị Nhị, cũng quê Thạch Kim, cũng đóng quân vùng ngã ba Đồng Lộc năm 1968 nhưng ở đơn vị khác. Cả hai  o Nhị đều có những kỷ niệm hội ngộ như nhau để có thể nghĩ nàng thơ  của nhà thơ Phạm Tiến Duật trong bài thơ nổi tiếng là chính họ. Là biết vậy thôi, chứ cả hai người  đàn bà xứ bể đều lặng lẽ niềm riêng, không hề có ai lên tiếng tranh giành. Có lẽ tại anh lính - nhà thơ quá  đa  tình. Có lẽ thời thanh niên son  trẻ ai cũng từng nông nổi. Có lẽ cũng cần một chút hạnh ngộ mơ hồ cho chiến tranh đỡ khốc liệt. Và với  riêng o Nhị, lưu giữ nó, dù có là ảo tưởng, tuổi già cũng bớt đi một phần quạnh quẽ.

Tôi về thăm, o lôi một két bia Halida từ gầm giường ra, cẩn thận phủi bụi, lau sạch kêu tôi uống. Tôi ngăn lại, không cho o bật nắp. O cười: "Bây sợ tốn tiền của o à?". Tôi và anh bạn nhà báo đi cùng cũng cười, không đáp. Lũ trai trẻ vùng Cửa Sót tha hồ đi phung phí gió của muôn phương, nhưng cứ về quê là lại quen lề cũ, chắt chiu từng cơn gió lay động tàu dừa!

Núi Nam Giới bên Đông, núi Bằng Lĩnh bên Tây, lọt thỏm một Thạch Kim của tôi ở giữa. Cả 4.000 năm lịch sử sừng sững soi xuống  con lạch của vùng Cửa Sót  cũng không đủ  để xua đi  cái hiu hắt mơ hồ  của đời  người.

Xưa  núi Nam Giới nằm sát bên làng. Giờ  bên Đông biển tiến đã nuốt  mất nửa xã Thạch Kim, đẩy cái cột  mốc biên cương  tự nhiên ấy xa ra vài  cây số. Bù lại, bãi bồi cửa biển  trước nhà o bị con  người lấn dần, nhà cửa xây thêm san sát. Trời động, o không đi bán, cứ bó gối ngồi trông lao qua những nóc nhà ngó ra phía bể. Cuộc sống đang đi lên. Những con nôốc Thạch Kim giờ đã được sơn phết màu sặc sỡ. Không còn cảnh vơ tấp đốt thuyền. Không còn sợi khói ngày xưa bay vu vơ  nữa. Không biết o tựa cửa trông vời để tìm kiếm điều gì, chờ đợi điều gì.

Những người đàn bà xứ biển luôn mang trong  mình  một thiên chức  là chờ đợi. Tôi biết, o Nhị sẽ còn ngồi vậy  rất  lâu và chờ đợi, mà cũng không chắc là mình đang chờ đợi điều gì!

N.H.L.

Cao Bằng – mảnh đất địa đầu Tổ quốc với hơn 333 km đường biên giới giáp Trung Quốc không chỉ là nơi giữ gìn chủ quyền thiêng liêng mà còn là địa bàn có dân cư phân tán, đời sống còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí không đồng đều. Trong bối cảnh đó, việc đưa pháp luật đến với người dân vùng cao, biên giới không chỉ là nhiệm vụ thường xuyên mà đã trở thành “chìa khóa” quan trọng để giữ vững an ninh trật tự từ cơ sở.

Mấy hôm nghỉ lễ, tôi lướt mạng xem năm nay “tình hình thế nào”, câu chuyện “bên này, bên kia” đã có gì khác trước, khi mà đất nước đã qua hơn nửa thế kỷ kể từ ngày Chiến thắng 30/4/1975. Và thật buồn khi những giọng điệu ngược lối, trái đường vẫn tái diễn, những chiêu trò như “tưởng niệm ngày quốc hận”, “hội luận tháng tư đen” tiếp tục được các hội nhóm chống phá ở hải ngoại xoáy lại với các hình thức, tính chất, mức độ khác nhau.

Thời gian qua, Công an các đơn vị, địa phương đã làm tốt công tác phòng ngừa, đấu tranh với  tội phạm, vi phạm pháp luật liên quan đến người dưới 18 tuổi. Trong đó, phòng ngừa, đấu tranh nhóm thanh thiếu niên tụ tập, sử dụng vũ khí, hung khí nguy hiểm giải quyết mâu thuẫn, gây rối trật tự công cộng.

Nhiều người chọn phương án trở lại TP Hồ Chí Minh trước lễ 1 ngày để tránh kẹt xe nên tối 2/5 dòng phương tiện từ các tỉnh đổ dồn về 2 cửa ngõ phía Đông và phía Tây. Một lượng lớn phương tiện được giải tỏa trong đêm, tuy nhiên đến chiều cuối kỳ nghỉ lễ (3/5) giao thông tại các cửa ngõ TP Hồ Chí Minh tiếp tục tăng nhiệt…

Từ nhiều năm nay, Cảnh sát giao thông (CSGT) Công an các tỉnh, thành miền Trung cùng Công an và chính quyền các xã, phường phối hợp ngành đường sắt nỗ lực triển khai nhiều biện pháp tăng cường đảm bảo an toàn giao thông (ATGT) đường sắt trên tuyến. Không chỉ đẩy mạnh tuần tra kiểm soát, tăng cường xử lý vi phạm, lực lượng chức năng còn tập trung xóa bỏ lối đi tự mở, xây dựng hầm chui, thiết lập rào chắn hàng trăm đoạn – tuyến gần khu dân cư, xây dựng các mô hình tuyên truyền… Thế nhưng, tình hình trật tự ATGT đường sắt tại một số địa phương vẫn... "nóng".

Trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đồng bào Công giáo Việt Nam với tinh thần “Sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc”, “tốt đời, đẹp đạo”, “kính Chúa, yêu nước”, đã và đang có nhiều đóng góp tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn an ninh, trật tự (ANTT). Đồng hành cùng những đóng góp ấy là dấu ấn bền bỉ, sâu sắc của lực lượng An ninh nội địa Công an nhân dân (CAND). 

Trong khoảnh khắc khó khăn, gian nan của cuộc sống đời thường, những chiến sĩ Công an tỉnh Sơn La lại lặng lẽ trở thành điểm tựa bình yên cho Nhân dân.

©2004. Bản quyền thuộc về Báo Công An Nhân Dân.
®Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Báo Công An Nhân Dân.
English | 中文