“Rào” ngăn duyên bao giờ được xoá?
Vì cưới vợ là có thêm lao động, mang của cải về nhà nên theo quan niệm của người Tà Ôi sống ở huyện miền núi A Lưới (Thừa Thiên-Huế) người con trai phải có nhiều lễ vật khi muốn hỏi vợ. Tục thách cưới cũng xuất phát từ đó.
Những cô gái trở thành món nợ “văn” ngày xưa
Ông Lê Dừa (người dân tộc Pa Hy), Trưởng phòng Văn hóa - Thông tin huyện A Lưới cho biết, nam nữ Tà Ôi đến với nhau có thể qua tập tục đi sim, nhờ ông tơ bà nguyệt se duyên hoặc do cha mẹ xếp đặt... nhưng dẫu bằng cách nào đều phải tuân theo những tập tục cưới “bất di bất dịch”.
Theo ông Dừa, từ lâu, thách cưới và các thủ tục cưới xin của đồng bào Tà Ôi đã rất được coi trọng nhằm tôn sùng vai trò chỉ huy của các già làng, trưởng bản trong cộng đồng khép kín và đề cao vị trí của người nam giới trong mỗi gia đình. Họ quan niệm, cưới xin là một việc làm hệ trọng, do vậy, phải có lễ vật, cỗ bàn linh đình để cả làng biết và người nam giới luôn làm được việc lớn, họ chỉ cần có bạc, có gia súc là mua được vợ về nhà.
Lễ cưới của người Tà Ôi thường diễn ra tới một tuần. Nhưng để chuẩn bị cho nó thì người Tà Ôi phải mất hàng mấy năm, tức là khi nhà trai có đủ trâu, bò, heo, dê, nai và thóc đầy gùi... đủ để làm tiệc chiêu đãi nhà gái và cả làng trong những ngày cưới, còn nhà người con gái phải dệt đủ các trang phục thổ cẩm để biếu lại cho tất cả họ hàng nhà trai.
Ông Lê Dừa cho biết, tục cưới của người Tà Ôi thường theo 3 bước. Trước tiên là đi dạm hỏi. Lễ này mang tính chất đặt cọc người con gái mà người con trai yêu hoặc do gia đình sắp đặt. Lễ vật dạm hỏi nhà trai phải mang theo gồm bạc, đá quý được tôi luyện thành những chuỗi mã não, hoa tai, dây chuyền, vòng tay, vòng cổ, bạc nén và 3 con trâu, 5 con heo, chưa kể chó, nai... tức là càng nhiều động vật bốn chân càng chứng tỏ sự thịnh vượng của nhà trai.
Để đáp lại, nhà gái cũng phải chuẩn bị các lễ vật như váy, áo thổ cẩm cho cả họ hàng nhà chàng mặc đủ cùng các món ăn hải sản và động vật hai chân (gà, ngan, vịt...) với số lượng lớn để lo cỗ đãi họ nhà trai. Đặc biệt, lễ vật giữa đôi bên tuyệt đối không trùng nhau. Sẽ là điều cấm kị nếu nhà gái lại ăn những thức ăn mình mang đến cho thông gia.
![]() |
| Phụ nữ Tà Ôi cắm cúi dệt vải để làm đồ thách cưới. |
Sau lễ dạm hỏi là lễ cưới, con gái trước khi về nhà chồng được bố mẹ chuẩn bị một số lễ vật để ra mắt gia đình bên chồng như váy áo, chiếu, gối thổ cẩm. Tiễn con gái gồm tất cả thân tộc, nội ngoại và già làng. Rước dâu, nhà trai tổ chức một lễ thật lớn, giết nhiều trâu, bò, nấu cơm dẻo để thết đãi nhà gái và cả làng. Họ thường dùng điệu hát cha chấp, adên để trao đổi.
Tiệc tan, nhà trai lại tiễn nhà gái bằng cách biếu trâu, bò, heo cùng các lễ vật khác đã nêu ở phần dạm hỏi với số lượng nhiều gấp ba. Sau khi người nhà gái về, nhà trai tổ chức lễ ăn cơm chang cho đôi uyên ương. Đây là lễ quyết định 2 người từ đây đã là vợ chồng.
Sau ba ngày, đến ngày thứ 4 nhà chồng cho cô dâu về nhà bố mẹ đẻ gần người thân lần cuối để cắt khẩu. Lễ ở đây do nhà gái tổ chức, diễn ra trong hai ngày. Ngay sau đó là lễ thiết lập thông gia giữa hai bên để dễ bề đi lại thăm nom nhau khi cần thiết. Gà, vịt, cá, ếch... và xôi là những món nhà gái trịnh trọng làm để thết đãi nhà trai. Dịp này, con gái được bố mẹ, người thân cho rất nhiều quà cưới và xem đó là của hồi môn. Còn nhà trai cũng được đáp bằng nhiều lễ vật quý: thổ cẩm đắt tiền, nồi niêu, chén bát cổ cùng nhiều thức ăn ngon, đủ phần cho cả họ nhà trai.
Đến đây, lễ cưới của người Tà Ôi vẫn chưa thể kết thúc được nếu đôi vợ chồng này chưa thực hiện một lễ hết sức quan trọng không thể bỏ qua đó là lễ tạ ơn duyên thành. Không ấn định cụ thể về thời gian tổ chức nhưng sẽ rất kiêng kị nếu cặp vợ chồng nào chưa qua lễ này.
Ông Lê Dừa còn cho chúng tôi biết, vì thủ tục cưới xin của người Tà Ôi rất nặng nên chỉ người giàu có mới cưới được vợ. Do đó, đã có nhiều cặp nam nữ không đến được với nhau. Cũng đã có nhiều trường hợp lo đủ đồ thách cưới cho nhà gái mà nhà trai phải đi vay nợ cho đến hết đời vẫn chưa trả xong. Gánh nợ nần lại đổ lên đầu cô dâu và cả cô con gái của họ.
Cô con gái mới lọt lòng đã bị chủ nợ đặt cọc và xem đó là món tiền mà con nợ phải trả. Họ gọi món tiền đó là “văn”, “văn” còn được dùng để chỉ toàn bộ giá trị của cải mà nhà trai bỏ ra để cưới vợ. Cô con dâu khi không được thương yêu mà lại nộp tiền “văn” quá lớn để rước về thì bị nhà chồng đối xử như đầy tớ, phải làm thân trâu ngựa phục tùng họ suốt đời.--PageBreak--
Những đám cưới “no dồn, đói góp” ngày nay
Bà Nguyễn Thị Sửu có tên là Kê Chưa (người dân tộc Tà Ôi), Chánh Văn phòng Huyện ủy A Lưới cho biết, ngày nay, cuộc sống của huyện miền núi này đã bắt đầu thay da, đổi thịt, đặc biệt từ khi tuyến đường Hồ Chí Minh kéo dài 110km chạy qua huyện miền núi A Lưới. Trai gái Tà Ôi đã tự do đến với nhau hơn, các hộ dân A Lưới còn nghèo đói nên họ cũng không thể bày ra một đám cưới với hàng đàn trâu bò bị giết thịt.
Tuy nhiên, hủ tục thách cưới và những tập tục cưới xin rườm rà của người Tà Ôi vẫn chưa thực sự được xóa bỏ. Vì “đất lề, quê thói” đã bén rễ khiến nhiều gia đình Tà Ôi cơm không đủ no, áo không đủ ấm vẫn cố chắt chiu, dành dụm để có được một lễ cưới “ra tấm, ra món”.
Họ quan niệm, có như vậy, đôi trai gái mới hạnh phúc, mới ăn đời, ở kiếp với nhau. Với những gia đình khá giả hơn, nhà trai vẫn sẵn sàng chấp nhận việc thách cưới hay phô trương của cải để chọn được cho mình cô gái đẹp nhất, khỏe nhất về làm vợ. Trong số đó, có cả gia đình những cán bộ “đầu tàu” gương mẫu trong việc thực hiện nếp sống văn hóa mới.
Mùa cưới đầu năm 2007, cán bộ huyện A Lưới vẫn còn chưa thôi “sửng sốt” vì đám cưới con trai của bà Phó chủ tịch HĐND xã Hồng Bắc, huyện A Lưới Lê Thị Tú. Theo lời kể của bà Sửu, lễ cưới mà nhà trai chuẩn bị hôm đó có tới 100 bộ thổ cẩm, 50 chiếc chiếu, 100 gùi nếp, 300 ống cá tươi, 10 gùi bánh, 100 con gà, vịt đủ để tổ chức cỗ cho cả xã ăn trọn 3 ngày, 3 đêm. Chưa kể, đến ngày rước dâu, họ nhà trai còn tổ chức một lễ đâm trâu, giết thịt tới 3 con trâu và 10 con heo để vừa làm cỗ vừa biếu nhà gái và khách tới dự...
Bản thân đám cưới của Hồ A Lua, Phó chủ tịch UBND xã A Roàng cuối năm 2006 cũng vẫn chưa thoát khỏi những hủ tục lạc hậu. Vừa tốt nghiệp ĐH Nông - Lâm Thanh Hóa, A Lua xin phép bố mẹ được tổ chức cưới theo nếp sống mới. Nhưng bản thân bố vợ của A Lua khăng khăng không đồng ý, đòi thách cưới và cuối cùng con rể tương lai cũng đành... chịu thua.
![]() |
| Đàn lợn nhà ông Blup Ngời nuôi để làm đám cưới cho con. |
A Lua kể, để cưới được cô vợ Blup Thị Cơi (ở nhà làm ruộng), bố mẹ A Lua đã phải mất 6 con heo, 3 con trâu, 10 bộ áo quần dài tay để biếu anh em nhà cô dâu rồi hạt mã não, dây chuyền cườm, chiếu, chậu thau... trị giá ngót 30 triệu đồng. Đáp lại, nhà gái cũng “lại quả” những lễ vật thịnh soạn như 10 bộ quần áo thổ cẩm, một đàn gà, vịt và một con heo nặng tới 50kg để nhà trai ăn mừng. Tiệc tùng tại gia đình đã linh đình là vậy, nhưng bản thân A Lua đang công tác tại UBND xã A Roàng nên anh vẫn mời các cán bộ tại đây một bữa tiệc cưới bằng bánh kẹo... theo đúng nếp sống mới.
Tại thôn Kà Lo, xã A Roàng, huyện A Lưới, hai vợ chồng bác Blup Ngời và Blup Thị Nhơi có cả thảy 6 người con, mặc dù đã ở tuổi lục tuần nhưng vẫn không thể cất được một mái nhà đàng hoàng vì cả đời chỉ... lo cưới cho con. Tháng 4 vừa qua, hai bác tổ chức đám cưới cho cô con gái Blup Thị Chơi lấy một chàng rể cùng huyện.
Bác Ngời cho biết, để lo đám này, bác đã thịt mất 1 con bò, 2 con trâu, 6 con heo trong chuồng chưa kể gà, vịt, gạo, rượu... để làm cỗ mời cả thôn Kà Lo. Ngoài ra, để lo đủ 10 bộ quần áo thổ cẩm để biếu lại gia đình nhà trai, 2 cô con dâu của bác và bác gái đã cặm cụi dệt cửi tròn 2 năm. Bù lại, nhà trai cũng đã lễ tạ nhà bác 3 con bò, 3 con trâu để đáp ơn công nuôi nấng sinh thành ra cô con gái.
Nhưng theo tập tục của người Tà Ôi, số trâu bò này không giữ lại trong chuồng để nuôi mà đều phải lần lượt thết đãi cho bà con họ hàng, thôn bản. Đến nay, bác Blup Ngời đã dựng vợ gả chồng cho cả thảy 5 người con, 2 trai và 3 gái. Với đám nào, bác cũng cố ráng theo tập tục để các con được hạnh phúc. Vì vậy, trong gian nhà lá tuềnh toàng của vợ chồng bác của nả chẳng hề có gì.
Tất cả trâu bò nuôi được, vợ chồng bác đều để dành làm đám cưới con. Lúa gạo hai vợ chồng đi nương, đi rẫy, chẳng đủ ăn. Túng quá, đến đám cưới anh thứ 2 Blup Ngóp, bác đã phải đi vay mượn người anh trong thôn và nhờ vợ chồng anh cả giúp đỡ 3 con lợn. Hiện nay, bác Blup Ngời còn một cậu con trai 17 tuổi. Để lo đám cưới cho con, bây giờ, trong chuồng, heo nhà bác đã có một đàn, còn trâu bò, bác dự định, để các chị dâu dệt cửi bán lấy tiền để mua giúp em nó!
Phó chủ tịch UBND xã A Roàng Hồ A Lua còn bộc bạch rằng, mỗi năm riêng tại A Roàng có khoảng 7-10 đám cưới của các đôi trai gái. Trong số đó, nhà nghèo nhất vẫn phải tốn mất 1 con trâu và 3 con lợn, chưa kể quần áo thổ cẩm. Nhà giàu thì 2-5 con trâu và cả heo, gà. vịt.
Để chuẩn bị một đám cưới, nhà trai cũng lo, nhà gái cũng lo vì nếu không thịnh soạn Giàng (Trời) sẽ phạt, cuộc sống của đôi trai gái không được hạnh phúc, thậm chí già làng, trưởng bản cũng... tự ái. Nhưng để có được một bữa cỗ như vậy, họ phải tích cóp cả đời. Mặc dù, đã thay đổi tập quán canh tác nhưng không có trâu bò cày ruộng (vì cứ đến mùa cưới, trâu bò lại bị giết chết) nên nghèo đói vẫn đè nặng lên vai người Tà Ôi tại xã A Roàng. Chính vì vậy, hiện nay, toàn xã A Roàng vẫn còn tới 70% hộ nghèo, cơm đứt bữa.
Để thoát được đói nghèo tại huyện miền núi A Lưới, bà NguyễnThị Sửu, Chánh Văn phòng Huyện ủy quả quyết, trước tiên phải thoát khỏi những hủ tục lạc hậu. Muốn vậy, cần phải biết cách thay đổi những nếp nghĩ của đồng bào dân tộc mà trước tiên là đội ngũ lãnh đạo. Bà Sửu hy vọng rằng, bằng cách đẩy mạnh tuyên truyền, khuyến khích thực hiện nếp sống mới để xóa bỏ đói nghèo, mang lại cuộc sống ấm no tức là làm việc tốt cho bà con dân tộc thì ắt họ phải theo. Mặc dù, đoạn đường đó còn phải “trèo đèo, lội suối”

