Vui rồi... xẩm ơi!
Nhưng thật bất ngờ, đến nay, khi hồi sinh trở lại, loại hình nghệ thuật độc đáo này lại có sức quyến rũ và lan tỏa đến không ngờ. Đã có nhiều buổi với hàng nghìn người xem quây quần bên xẩm chợ Đồng Xuân mỗi tối…
Chiếu xẩm chợ Đồng Xuân - Thôn quê giữa thị thành
Trời cuối xuân, mưa lây phây, mặc dù còn 30 phút mới đến giờ biểu diễn mà bà con cô bác đã tới đông đủ cả. Cả mấy dãy ghế nhựa đã chật kín khách. Có người trải chiếu ra đợi, lại có người kê dép ngồi bệt xuống đường nhựa. Cánh gà sân khấu, đã từ lâu ở vị trí bất di bất dịch dưới mái hiên tầng 1 của chợ Đồng Xuân, là nơi các nghệ sĩ đang trang điểm, sửa lại xiêm y. Cả đội nhạc công và các đào nương chỉ khoảng hơn 20 người... Chiếu xẩm này đã có 4 năm nay, vào các tối thứ bảy hàng tuần, khi thì ở mé phải bên chợ Đồng Xuân, khi lại ở đầu phố Hàng Đào.
Không có những người mù, không có những cháu bé mang theo chiếc ống bơ hay chiếc nón rách để mong chờ những đồng tiền cho như bố thí, mà lại thấy những nghệ sĩ tên tuổi trong dòng âm nhạc truyền thống như NSND Xuân Hoạch: cùng một loạt các NSƯT Hạnh Nhân, Thúy Ngần và cả NSƯT Thanh Ngoan, người nổi danh với giọng hát chèo “màu” hiếm có,... cùng với các bạn trẻ đang bắt đầu thành danh trong làng hát xẩm như Mai Tuyết Hoa, Quang Long, Mai Huê...
Sân khấu chẳng cần trang hoàng lộng lẫy, mà chỉ trên manh chiếu trải giữa trời lộng gió, người nghệ sĩ biểu diễn cởi tung tâm hồn đầy hứng khởi, cất lên lời xẩm: “Hà Nội như động tiên sa/ Sáu giờ tắt hết đèn xa đèn gần/ Vui nhất có chợ Đồng Xuân/ Mùa nào thức nấy mua gần xem mua...”. Tố chất của những người nghệ sĩ dân gian đương đại, thật nồng nàn mà cũng thật lắng sâu, lại thêm đặc trưng của loại hình nghệ thuật hát xẩm, phóng khoáng và hoang dã đã nhào nặn, cho ra một Thanh Ngoan tưng bừng, rộn rã, với thể loại xẩm trên bong, được chị thể hiện trong bài “Lơ lửng con cá vàng”: “Nước trong xanh... lơ lửng con cá vàng. Cây ngô cành biếc. Cái con chim phượng hoàng, nó đậu cành cao. Thương em phận gái hoa đào. Bởi tham đồng bạc nên em phải vào cái chốn cực thân...”.
Rồi người xem chợt thấy rưng rưng trong lòng khi Thị Phương, cô gái xinh đẹp ở đất Uông Bí - Quảng Ninh, cất tiếng: “Em ơi, em ở lại nhà. Vườn dâu, em đốn, mẹ già em thương. Mẹ già (thời) một nắng hai sương. Chị đi, một bước, trăm đường xót xa... Cậy em, em ở lại nhà...”.
Tiếng hát xẩm cất lên, cả đám đông im lặng nghe như nuốt từng lời và chắc chắn, những bài xẩm này đã gợi cho mỗi người những suy tư khác nhau. Với những người lớn tuổi, tiếng hát xẩm gợi cho họ sống lại những ngày khó khăn, vất vả... Ngày ấy, trên những chuyến tàu điện, hay ở những bến xe, bến tàu, không thiếu những tốp người mù đi hát xẩm. Họ chỉ có hai hoặc ba người. Thường là một cặp vợ chồng hoặc mù một người, hoặc mù cả hai, được đứa con hay cháu dắt đi... Một người hát, một người kéo nhị, một người gõ phách...
Còn với tôi, những bài hát xẩm gợi nhớ cho một tuổi thơ theo mẹ ra bến tàu điện Bờ Hồ và rụt rè xin mẹ một hào để bỏ vào chiếc nón do cô bé cũng trạc tuổi tôi chìa ra... Và ngày ấy, tôi đã ghét cay ghét đắng những gã quần áo bảnh chọe, đứng nghe hát xẩm nhưng rồi khinh khỉnh quay đi khi cô bé cầm chiếc nón đi tới. Và ngày ấy, có lẽ tiếng hát xẩm cùng với tiếng chuông tàu điện leng keng đã góp phần tạo nên một “nét văn hóa Hà thành”.
Buổi biểu diễn cũng không chỉ có hát xẩm mà còn có cả chầu văn, cả vài làn điệu chèo quen thuộc như “Tình thư hạ vị”, “Quân tử vu dịch”, “Luyện năm cung”, hoặc một giá chầu Cô Ba Cam đường... Rồi lại có cả độc tấu nhị, hoặc sáo... Nhưng đọng lại sâu sắc nhất, gợi nhớ nhất vẫn là những bài hát xẩm.
![]() |
| Chiếu xẩm chợ Đồng Xuân. |
NSƯT Văn Ty, người thầy đầu tiên về nghiên cứu nghệ thuật dạy giữ lề lối hát văn trong giới trẻ xuất hiện trên sân khấu với chiếc nón mê và cặp kính đen đưa qua, đưa lại rất ra dáng anh hàng xẩm. Nhiều khán giả quen thuộc của chiếu xẩm đã phải rưng rưng ngấn lệ khi ông cất tiếng hát ai oán, não lòng về những lời ca trong xẩm cổ.
Lượng khách tới rất đông, độ chừng 700 người đứng quây cả lại để chiêm ngưỡng, để nghe. Họ dường như quên đi guồng quay hiện đại của đời sống thường nhật để tắm mình trong các làn điệu phong phú của xẩm. Ấy vậy mà, chẳng cần có bảo vệ nào, cũng không hề có sự chen lấn, xô đẩy. Cảnh tượng quả hiếm thấy, rất phố thị mà cũng vô cùng đồng quê thôn dã, mộc mạc.
Ồ, mà thích thật đấy. Chẳng phải nhọc lòng mất công quảng cáo, đánh bóng tên tuổi như một số “sao lớn, sao bé”, chẳng phải mua hoa thuê người lên tặng, chẳng phải huy động bạn bè, họ hàng đi “vỗ tay mồi”... nhưng cứ nhìn cảnh người đến xem chiếu xẩm chợ Đồng Xuân thời “a còng” (@) thì mới biết loại hình nghệ thuật dân dã này có sức hút đến mê hoặc lòng người như thế nào.--PageBreak--
Xẩm ơi có tự bao giờ?
Tương truyền, hát xẩm có cách đây 700 năm. Ông tổ của loại hình nghệ thuật này là Hoàng tử Trần Quốc Đĩnh. Vào cuối đời nhà Trần, nhà vua truyền lệnh cho hai hoàng tử Trần Quốc Toán và Trần Quốc Đĩnh đi tìm ngọc quý, ai mang về trước sẽ được nối ngôi. Hoàng tử Đĩnh tìm thấy trước nhưng trong lúc đang giấc ngủ say, Hoàng tử Toán chọc mù hai mắt, cướp ngọc của em mang về. Hoàng tử Đĩnh lân la ra cửa rừng, nhặt được hai mảnh tre khô, gõ vào nhau giả tiếng chim để chúng tha thức ăn về, rồi quờ được sợi dây rừng, Đĩnh buộc sợi dây làm đàn.
Ra khỏi rừng chàng kiếm sống bằng nghề đàn hát. Trong nỗi buồn đau vô hạn, tiếng hát càng có sức truyền tải lạ lùng. Tiếng đồn về người nghệ sĩ mù với cây đàn đi rong về đến kinh thành, nhờ đó nhà vua sau này tìm được con trai vàâ người trừng trị Hoàng tử Toán. Hoàng tử Đĩnh sau khi sống ở chốn lầu son gác tía vẫn không quên nhờ tiếng hát đã tiếp sức cho chàng trong những ngày lang thang, tủi hờn. Và Hoàng tử Đĩnh đã đem nghề đàn hát lưu truyền cho nhân dân, đặc biệt là người khiếm thị để họ có nghề kiếm sống. Tưởng nhớ công ơn vị hoàng tử, người ta đã lấy ngày 22/2 và 22/8 âm lịch làm ngày giỗ Tổ.
Để có được lời giải đáp chính xác về nguồn gốc của hát xẩm và tại sao lại gọi là “xẩm”, chúng tôi đã phải hỏi nhiều người, trong đó có học giả An Chi. Ông An Chi cho biết: “Từ điển tiếng Việt của Vietlex (TĐTV) do Hoàng Phê chủ biên giảng hát xẩm là “lối hát của người mù đi hát rong, gồm nhiều giọng và thường có đệm, nhị, hồ, phách” còn xẩm thì được quyển từ điển này giảng là “người mù chuyên đi hát rong”.
Vậy, trong hát xẩm, tên của lối hát, thì xẩm là tiếng chỉ người hành nghề, người thực hiện lối hát đó. Nhưng đâu là nguồn gốc của chính cái từ xẩm này? Một số người cho rằng xẩm là một từ đã “mất gia phả”, thậm chí có người còn nghĩ rằng nó “có gia phả” đâu mà mất? Thực ra thì nó có gia phả đấy! Và cứ liệu của ta còn đi ngược lên đến tận giữa thế kỷ XVII nữa là đằng khác.
Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum (Từ điển Việt - Bồ - La) của Alexandre de Rhodes (Roma, 1651) đối dịch xẩm là cego (tiếng Bồ), caecus (tiếng La), nghĩa là “đui, mù”. Chẳng phải đây chính là cái nghĩa đã cho trong TĐTV hay sao? Nhưng “đui, mù” cũng chưa phải là nghĩa gốc của xẩm; nghĩa gốc này có thể được tìm thấy trong Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh - Tịnh Paulus Của (ĐNQ TV) qua mục từ: “Xẩm. Cháng váng, chóng mặt - Xây xẩm. Cháng váng, chóng mặt - Xẩm mắt. Tối mắt, lòa con mắt - Trời xẩm/Xẩm trời. Trời áng mây, không có nắng, không có sáng; trời gần tối”. Mục từ này cho phép ta khẳng định rằng xẩm trong xẩm mắt và xẩm trong xẩm tối thực ra chỉ là một. Đồng thời, đây thực chất cũng chỉ là một biến thể ngữ âm và chính tả của sẩm, như đã được chứng minh trong TĐTV.
Quyển từ điển này ghi nhận: “Xẩm - tính từ. Xem sẩm”. Còn sẩm thì được ghi chú là “tính từ” và được giảng là “khoảng thời gian bắt đầu tối, không còn trông rõ mọi vật nữa”. Cái nghĩa này của sẩm trong TĐTV chẳng qua chỉ là một với nghĩa của xẩm trong Trời xẩm/ Xẩm trời, đã cho trong ĐNQ TV mà thôi. Vậy, ở đây, xẩm và sẩm chỉ là hai biến thể ngữ âm và chính tả. Có điều là giữa hai đơn vị, đã xuất hiện một sự phân công: xẩm đặc dụng cho nét nghĩa “đui, mù”, còn sẩm thì đặc dụng cho nét nghĩa “tối, mờ”, ít nhất cũng là trong tiếng Việt toàn dân (chứ riêng ở trong Nam, chẳng hạn, thì xẩm vẫn hiện dụng với nghĩa của sẩm trong TĐTV).
Đi tìm cho câu trả lời “Thực chất, hát xẩm có phải dành cho người mù?”, tôi đã gặp Giám đốc Trung tâm Phát triển nghệ thuật âm nhạc Việt Nam, giảng viên Học viện âm nhạc quốc gia Việt Nam là GS-TS Minh Khang, người cả đời gắn với dòng âm nhạc truyền thống dân gian Việt Nam.
Ông lý giải: “Xẩm là loại hình âm nhạc chuyên nghiệp vì từ bao đời nay nhiều nghệ nhân sống bằng cái nghề đó. Xẩm là loại hình diễn xướng dân gian rất độc đáo của dân tộc ta. Và trong diễn xướng dân gian người ta có thể kết hợp nhiều loại hình thể lệ khác, như trống quân, cò lả, xa mạc, bồng mạc, thậm chí cả lẩy Kiều cũng vào trong xẩm.
Như thế có nghĩa là không phải cho người mù. Người mù hành khất mượn xẩm để làm kế sinh nhai bởi vì xẩm dễ đồng cảm hơn các loại hình thể loại âm nhạc khác. Nó là tiếng nói của tâm trạng, của số phận nên khi người nghe thì cảm thấy dường như có số phận của mình trong đó.
Thời kỳ rộn ràng nhất của xẩm là trước năm 1945, có nhiều người tìm đến loại hình âm nhạc này để mưu sinh trên đường phố cũng bởi xẩm dễ kiếm ăn hơn các thể loại âm nhạc khác. Người ta không thể đem hát chầu văn, ca trù đi rong đường để hát.
Vai trò quần chúng hóa của xẩm rất cao, bởi xẩm là của người dân lao động. Nói đến xẩm, người ta hay dè bỉu, miệt thị. Có lẽ bởi vì loại hình âm nhạc thôn dã này chưa một lần được bén mảng chốn cung đình.
Xẩm là kết hợp hài hòa giữa người hát và âm nhạc. Nhạc cụ quan trọng cho hát xẩm thường chỉ là cây nhị, hồ, chiếc trống mảnh, cặp mõ, đôi khi có thêm cây sáo (mà thổi sáo cho hát xẩm, hát chèo là khó vô cùng đấy).
Nội dung của những bài hát xẩm cũng rất phong phú. Vào những năm tháng trước Cách mạng Tháng Tám, không ít những người hát xẩm lại là “chiến sĩ trên mặt trận văn hóa văn nghệ” với những bài hát xẩm có nội dung chống chế độ phong kiến, thực dân, chống sưu cao, thuế nặng...
Trong kháng chiến chống Pháp. Những người hát xẩm tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng về vấn đề lương thực, sản xuất, chiến đấu, bình dân học vụ...
Còn trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước và cho đến khi người ta phá đường tàu điện, lời của những bài xẩm cũng thật “biến hóa”. Từ những bài phê phán thói hư tật xấu như cờ bạc, rượu chè, nghiện ngập, đến những bài ca ngợi lòng hiếu thảo, ca ngợi những cảnh đẹp đất nước và đến cả những bài động viên phong trào “thanh niên sẵn sàng, phụ nữ ba đảm đang”...
Nhưng rồi bắt đầu từ đầu những năm 80 thế kỷ trước, hát xẩm dần dần vắng bóng và cho đến những năm 90 thì tuyệt tích. Đi tìm nguyên nhân này không có gì là khó... Khi làn sóng văn hóa ngoại lai ồ ạt xông vào nước ta và cùng với nó là sự phát triển như vũ bão của các phương tiện nghe nhìn, cộng với nhịp sống ngày một cao, người ta không còn thích nghe những giai điệu có phần ủ ê, than vãn nên hát xẩm không còn “đất dụng võ”. Và cũng phải nói thêm là trong quãng thời gian ấy, chẳng riêng gì hát xẩm, mà tuồng, chèo, ca trù, cải lương cũng “dở sống dở chết”...
Nhưng may mắn thay, 5 năm trở lại đây, việc phục hồi các loại hình nghệ thuật dân tộc đã được chú trọng... Chỉ có điều, dựng lại những gì đã mai một là không dễ. Khôi phục lại nghệ thuật hát xẩm cũng không đơn giản. Chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này trong một dịp khác
