Khổ mới nên người
Năm 1978, tôi đang là cậu học sinh lớp 10 của Trường Việt-Đức trên phố Lý Thường Kiệt. Tiếng là ở lớp cuối cấp, sắp thi đại học, nhưng với tôi lúc đó, mọi sự tương lai vẫn bất định lắm. Học thì học, nhưng tôi vẫn chưa rõ là phải thi vào trường gì, khối A hay khối C. Nói trộm vía, tôi thích cả văn lẫn toán và học cả hai môn đều không đến nỗi nào.
Cho tới một hôm, gần cuối học kỳ 1, bỗng nhiên tôi và vài ba cậu bạn cùng lớp được ban giám hiệu triệu tập, thông báo rằng Trường Đại học Kỹ thuật Quân sự chọn chúng tôi làm ứng cử viên. Thời đó, làm học viên sĩ quan "oai" lắm vì Trường Đại học Kỹ thuật Quân sự vốn nổi tiếng là "khó tính" và có điều kiện học tập vào loại tốt nhất, đặc biệt là các lớp đào tạo năm dự bị để đi học ở nước ngoài. Là bộ đội nhưng "bộ đội trí thức", là "lính cậu" không bao giờ khổ cả (đấy là tụi tôi nghe nói thế).
Khi nghe tôi về báo tin, bố tôi, một sĩ quan làm "Bộ đội Cụ Hồ" từ năm 1946, một cựu binh của Đoàn 559, mừng rỡ nói: "Thế là hay lắm con ạ! Tính như mày, ở trong quân ngũ đỡ phức tạp hơn!". Và thế là tôi ghi nguyện vọng thi vào Trường Đại học Kỹ thuật Quân sự, là ứng cử viên "lính cậu".
Mọi sự trôi đi yên ả cho tới kỳ thi. Là "cậu ấm" phố Hàng Đào, tôi chẳng gặp khó khăn gì lắm trong việc ôn thi và cả ngày thi. Mọi sự bắt đầu sau khi thi ba hôm, khi còn chưa ai biết được kết quả thi cử của mình ra sao. Tất cả chúng tôi, những ứng cử viên "lính cậu" nhận được lệnh tập trung ở thôn Đoàn Đào, huyện Phù Tiên, tỉnh Hải Hưng (nay là huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên) nhập ngũ.
Đúng ngày 23/7/1979, chúng tôi có mặt ở Đoàn Đào, thực sự trở thành lính. Bố tôi mượn xe của đơn vị đưa tôi đi. Theo cùng là mẹ và em gái tôi, lỉnh kỉnh đồ thực phẩm, định bụng tới nơi tập trung quân sẽ nấu cho tôi bữa ăn gia đình vì ai cũng biết rằng, thời đó, ở các đơn vị bộ đội ăn uống vô cùng kham khổ. Ngày đầu tiên trong quân ngũ của chúng tôi vì thế vẫn còn không khí gia đình, quan trọng hơn, là chúng tôi còn được... ăn no!
![]() |
| Những chàng tân binh ở Đoàn Đào xưa sau 30 năm trong quân ngũ. |
Sang ngày 24, chúng tôi thực sự làm lính như mọi tân binh khác. Ở đơn vị đón tân binh chẳng có ai là "lính cậu" cả. Hơn nữa, nghe nói là trước khi Trường Đại học Kỹ thuật Quân sự mở khóa mới cho chúng tôi, một phái đoàn quân sự cấp cao của ta do bác Chu Huy Mân dẫn đầu sang thăm Liên Xô và các nước Đông Âu, bạn đã phàn nàn là các học viên kỹ thuật quân sự của ta "hơi bị yếu" về mặt điều lệnh quân đội.
Thành thử các thủ trưởng quyết định rèn luyện cho khóa chúng tôi thành một thế hệ học viên quân sự mới, không chỉ khá về tri thức khoa học kỹ thuật, mà tác phong và sức chịu đựng cũng phải như lính chiến thực thụ.
Vì thế, thay vì chờ báo điểm rồi lên trường học, chúng tôi phải xuống đơn vị rèn luyện trước khi biết điểm thi. Cấp trên thông báo cho chúng tôi rằng, việc chúng tôi vào trường sẽ không chỉ phụ thuộc vào điểm thi, mà vào cả chất lượng thời gian chúng tôi làm tân binh ở đơn vị. Bởi vậy, biết trước là khổ nhưng không ai dám tỏ ra trễ nải.
Mọi sinh hoạt ở Đoàn Đào đều phải tuân theo kẻng. Ngay đêm 24, khi chúng tôi đang ngủ say giữa khuya cũng đã phải bật dậy theo lệnh báo động, mang hết quân trang chạy bộ 5-7km. Rồi các buổi tập điều lệnh, tập bắn súng lu bù... Lạ nước, lạ nếp sống nên hầu như những thằng con trai thành phố như chúng tôi đều bị ghẻ lở, hắc lào… Tối đến, các cậu lính thành phố vốn quen sạch sẽ phải xuống quân y xếp hàng chờ cô y tá bôi thuốc hắc lào cho, vừa xấu hổ vừa... vui!
Nhưng khổ nhất vẫn là những cơn đói, triền miên... Dạo ấy, các đơn vị bộ đội, nhất là tân binh, ăn chẳng bao giờ đủ no, lại rất thiếu thức ăn. Thịt ít, rau cũng ít. Mỗi bữa, một mâm tập thể 6 người thường may lắm cũng chỉ có vỏn vẹn vài ba miếng thịt gợi nhớ tới nghệ thuật thái thịt của thằng Mõ trong truyện "Việc làng" của Ngô Tất Tố.
Nếu ngồi cùng mâm bạn quen thì còn nhìn nhau mà chia đều. Vô phúc hôm nào ngồi vào mâm lạ, mình chưa kịp hành sự thì đã có người (cũng là do đói cả thôi!) gắp luôn hai miếng hết cả phần rồi!
Sau khóa tân binh, nhiều người trong bọn tôi đã học được cách ngồi vào mâm bao giờ cũng phải gắp lấy miếng thịt phần của mình đã, nhưng chưa ăn ngay mà vùi xuống dưới bát cơm, đợi tới bát cuối cùng mới ăn cho dễ đưa nuốt, còn hai bát đầu thì rưới tạm nước muối hoặc ăn với rau…
Khổ thế nhưng chính trong những ngày tân binh ấy, tôi đã bắt đầu viết những vần thơ lính đầu tiên của đời mình, vụng về, thô mộc và rất đỗi chân thành, mơ mộng. Một lần ra ngoài đồng tập bắn, nhìn thấy những bông cúc dại nhỏ xíu bên đường, tôi bỗng thấy cồn cào nhớ mẹ. Và bất chợt những ý thơ đầy những chi tiết không hiện thực đã ùa về với tôi:
Hồi ở nhà có để ý gì đâu,
Dầu Hà Nội loại hoa nào cũng có.
Tôi đã gặp trong thơ nhưng chẳng nhớ
Vẻ dịu dàng của hoa cúc vùng cao.
Xa nhà rồi, mùa thu tới nôn nao
Nhớ kỷ niệm của những ngày bé nhỏ,
Nhớ buổi tựu trường phượng còn thắm đỏ,
Tiếng ve còn êm dịu những trò vui.
Đến sáng hôm nay hành quân qua đồi,
Mới ngỡ ngàng trước rừng hoa cúc nở.
Cúc bé nhỏ mà đồi không bé nhỏ
Nên màu vàng cứ bỡ ngỡ bao la.
Mẹ ơi mẹ đứa con đi xa
Mười tám tuổi mới lần đầu cảm thấy
Yêu bông cúc đơn sơ mà lộng lẫy
Mọc trên đồi giữa ngàn loại cỏ cây
Xin được cầm bông cúc lên tay
Để mơ mộng cũng đi vào trận đánh,
Xin cúc đậu lên ba lô người lính,
Mười tám tuổi thôi mà nên lính rất yêu hoa.
Mẹ ơi mẹ đứa con đứa con đi xa
Trên đường hành quân khát khao gặp mẹ
Để làm việc chưa kịp làm ngày bé:
Bông cúc này hái tặng mẹ thân yêu...
Cứ tưởng mình sẽ được làm “lính cậu” nhưng chúng tôi đã qua hai tháng tân binh như mọi người lính khác. Đằng đẵng hai tháng như thế và chính nhờ như thế nên chúng tôi rồi cũng quen dần với mọi sự kham khổ và thực sự đã trưởng thành. Ăn ít mãi rồi cũng chẳng cảm thấy đói nữa. Hơn nữa, quen thung quen thổ, chúng tôi cũng "dân vận" được một số gia đình, vì thương mấy chú bộ đội trẻ măng, khéo nói và tương đối lanh lợi, nên hay viện trợ thêm cho chúng tôi cây nhà lá vườn.
Rồi chúng tôi nhận được thông báo điểm thi và ai theo phận nấy, rời khỏi quãng đời tân binh không hề mang chút "lính cậu" tí nào. Tôi thi đủ điểm đi học ở nước ngoài và được phân sang Liên Xô học về vô tuyến điện. Rời khỏi Đoàn Đào, tôi mang về Hà Nội một vẻ phong trần và những vết hắc lào mà phải tới nhiều tháng sau mới chữa khỏi.
Kết thúc quá trình thi vào Trường Đại học Kỹ thuật Quân sự, tôi từ đó đã là một học viên sĩ quan kỹ thuật thực sự rồi, sang bên nước bạn du học cũng không kém cạnh gì các sĩ quan tương lai mang nhiều quốc tịch và màu da khác…
Sau này, về Việt Nam, tôi đã phải trải qua những thử thách lớn hơn nhiều, thậm chí có lúc phải đối mặt với cái chết trên chiến trường nhưng trong sâu thẳm trái tim, tôi vẫn biết ơn những ngày đầu tân binh ấy, đã rèn luyện cho tôi một bản lĩnh, biết nghiến răng trước mọi truân chuyên, vì hiểu rằng, mình không hẳn đã là người khổ nhất
