Cuộc hội tụ của ba di sản lớn

10:07 27/01/2026

Ấn bản “Kim Vân Kiều” của Công ty Nhã Nam lần đầu tiên đồng thời có sự kết hợp “Kim Vân Kiều” do học giả Nguyễn Văn Vĩnh dịch và chú giải cẩn thận ra quốc ngữ, kèm minh họa nhân vật theo bản in năm 1923, cùng bộ tranh Kiều chưa từng công bố của họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm.

Có thể nói đây là sự hội tụ hiếm có của ba di sản lớn: di sản văn chương của Nguyễn Du, di sản quốc ngữ của Nguyễn Văn Vĩnh và di sản hội họa của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm, cho thấy sự nối dài đời sống của những giá trị văn hóa.

Di sản “Truyện Kiều” và chữ quốc ngữ của Nguyễn Văn Vĩnh

Truyện Kiều có một lịch sử in ấn, phiên âm, dịch thuật, chú thích, chú giải cũng như tiếp nhận, nghiên cứu, đánh giá vừa phong phú, phức tạp vừa nhiều thành tựu. Theo thống kê của các nhà nghiên cứu về Truyện Kiều, đến nay chúng ta đã sưu tập được 63 văn bản Truyện Kiều cổ khác nhau.

Giáo sư Trần Đình Sử và họa sĩ Lương Xuân Đoàn chia sẻ về Kim Vân Kiều của học giả Nguyễn Văn Vĩnh.

Theo giáo sư Trần Đình Sử, bản “Kim Vân Kiều” của học giả Nguyễn Văn Vĩnh giúp bạn đọc được tiếp cận với bản Kiều quốc ngữ sớm nhất miền Bắc Việt Nam đầu thế kỷ 20 mà ông đã phiên âm và biên soạn trong 17 năm trời. Tuy có một số chữ lạ, khác với văn bản chúng ta quen thuộc nhưng nhiều trong số đó đã được sửa lại trong văn bản “Truyện Kiều” in năm 1933 và 1942. Giáo sư Trần Đình Sử cũng cho biết, Nguyễn Văn Vĩnh phiên âm Kiều từ rất sớm, từ năm 1906; kéo dài hàng chục năm, với việc sửa chữa liên tục để “ngày càng chính xác”. Và việc tiếp cận với “Kim Vân Kiều” của Nguyễn Văn Vĩnh giúp bạn đọc hôm nay hiểu rõ hơn tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam, cũng như vai trò của các trí thức buổi giao thời trong việc phổ biến chữ quốc ngữ, kiến tạo tinh thần yêu chuộng vốn cổ văn học, ngôn ngữ nước nhà. 

Vì sao học giả Nguyễn Văn Vĩnh lại dành nhiều thời gian và tâm huyết của mình để phiên âm, chú giải “Truyện Kiều” sang chữ quốc ngữ? Đầu thế kỷ XX, xã hội Việt Nam bước vào một giai đoạn chuyển mình, trong đó sự thay đổi về chữ viết là một trong những vấn đề mang tính nền tảng. Nguyễn Văn Vĩnh là một trong những trí thức Việt Nam sớm tiếp thu tư duy duy lý và tinh thần khai sáng phương Tây. Ông hiểu, muốn thuyết phục xã hội từ bỏ sự độc tôn của Hán học, không thể chỉ bằng lý luận, hay sự áp đặt. Và ông đã chọn “Truyện Kiều” bởi đó là tác phẩm có uy tín gần như tuyệt đối trong đời sống tinh thần người Việt, hay nói cách khác, người Việt có một “ngôn ngữ chung” là “Truyện Kiều”. Lựa chọn này của ông không chỉ mang ý nghĩa văn học mà còn là một chiến lược văn hóa có tính khai sáng rõ rệt.

Trong lời tựa “Kim Vân Kiều” bản tái bản năm 1915, Nguyễn Văn Vĩnh nhấn mạnh: “Nay chúng tôi dịch truyện này ra chữ quốc ngữ, có ý tra cứu các bản từ xưa đến giờ, để dịch cho đúng mà lưu lại một cái nền văn - chương nước Nam. Các điển tích cùng các câu khó chúng tôi đã chua ra, để ai ai cũng hiểu những câu sâu sắc trong Truyện Kiều; để mà biết thực giá một cái hương-hỏa quý của người đời trước để lại cho; để mà ngâm câu truyện biết nghĩa lý, thì lòng người mới biết động”. 

Ấn bản “Kim Vân Kiều” năm 2025 của Nhã Nam được tái bản dựa trên bản “Kim Vân Kiều” do Nguyễn Văn Vĩnh dịch, chú dẫn các điển tích ra chữ quốc ngữ, in lần thứ 7 năm 1923 của Hiệu Ích Ký (Hà Nội). Bản dịch và chú giải “Kim Vân Kiều” của Nguyễn Văn Vĩnh, qua nhiều năm, được in có lẽ đến cả vạn bản, được yêu thích bởi lối phiên âm sáng rõ, cùng hệ thống chú giải uyên bác nhưng tiết chế, giúp độc giả quốc ngữ cảm nhận đúng tài năng, nghệ thuật thơ của Nguyễn Du. Có thể thấy mức độ phổ biến của nó cũng không hề thua kém bản dịch và chú giải Kiều được bạn đọc ngày nay biết đến nhiều hơn, là bản “Truyện Thúy Kiều” của Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim.

Theo giáo sư Trần Đình Sử, điều thú vị là mặc dù được in nhiều lần nhưng rất khó để có một bản Kiều duy nhất mang dấu ấn Nguyễn Văn Vĩnh. Đó là vì trong quá trình biên soạn, phiên âm, đã có nhiều bản Kiều nôm và quốc ngữ khác xuất hiện. Ông đã tham khảo, sửa đổi, bổ sung trong những lần xuất bản khác nhau. “Kim Vân Kiều” của Nguyễn Văn Vĩnh vì thế, trở thành một “văn bản sống”. Chẳng hạn, trong bản in năm 1913, câu “Chữ tài chữ mệnh khéo là cợt nhau” thì trong bản in năm 1923, ông đã sửa chữ “cợt nhau” thành “ghét nhau”; hay ở bản 1923, ông để “Bóng chiều đã ngả dặm hòe còn xa” và chú “dặm hòe” là đường trồng cây hòe ở hai bên; đến bản 1933, ông sửa thành “dặm về còn xa”, cách nói phổ thông hơn.

Điều đặc biệt nữa là, trước khi dịch “Truyện Kiều” sang chữ quốc ngữ, học giả Nguyễn Văn Vĩnh đã dịch kiệt tác này sang tiếng Pháp. Bản tiếng Pháp của ông trở thành cơ sở cho các dịch giả dịch Kiều sang tiếng Nhật, tiếng Đức, tiếng Trung và có thể là cơ sở để dịch sang nhiều thứ tiếng khác nữa. Với bản dịch tiếng Pháp, ông đóng vai trò quan trọng trong việc quốc tế hóa “Truyện Kiều”.

Di sản tranh Kiều của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm

Lần này, “Kim Vân Kiều” của học giả Nguyễn Văn Vĩnh trở lại với một dung mạo mới, trong cuộc đối thoại “độc nhất vô nhị” với minh họa Kiều của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm.

Ấn bản mới “Kim Vân Kiều” của Nhã Nam.

26 minh họa chưa từng công bố của danh họa đã vẽ nên không gian đối thoại giữa truyền thống nghệ thuật, tinh thần hiện đại và ngôn ngữ tạo hình đậm cá tính cá nhân, từ đó mang đến cho công chúng cách “đọc Kiều bằng hình ảnh” đầy sáng tạo và độc đáo. Các tranh Kiều đều vẽ trên giấy dó, bằng chất liệu than chì, bột màu hoặc sơn dầu. Theo họa sĩ Lương Xuân Đoàn, Chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam, khi họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm còn sống, ông đã nhiều lần đến thăm, trò chuyện nhưng chưa bao giờ được ông tiết lộ về bộ tranh Kiều. Có thể nói đây là một bất ngờ vô cùng thú vị của hội họa Việt Nam đương đại.

“Mặc dù họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm rất khiêm nhường ghi vào từng tác phẩm là “minh họa Nguyễn Tư Nghiêm” nhưng chúng tôi coi đây là bộ tranh Kiều độc đáo duy nhất và lần đầu tiên thế hệ con cháu được cảm nhận một cách trọn vẹn. Ông vẽ trong sự thương cảm với  nàng Kiều, bằng cốt nét, tâm hồn, văn hóa Việt chứ không phải bằng cốt nét Trung Quốc như nhiều tiền bối. Xem từng tranh Kiều của Nguyễn Tư Nghiêm, người ta như nghe được cả tiếng thổn thức của cây cỏ, thiên nhiên nước Việt và đương nhiên là tâm hồn Việt. Đây hẳn là một bộ tranh Kiều ông vẽ trong 6 năm. Đúng thời điểm đất nước chiến tranh nhưng tâm ông vẫn lặng, sạch, hồn cốt Việt vẫn thấm đẫm”, họa sĩ Lương Xuân Đoàn chia sẻ.

Ông Đoàn cũng lý giải cho mạch nguồn văn hóa Việt trong tâm hồn danh họa bởi từ nhỏ, Nguyễn Tư Nghiêm được nghe mẹ đọc Kiều, thấm nhuần từng câu và biết cảm thương cho số phận của đàn bà Việt. Thời bé, các nét vẽ nguệch ngoạc của danh họa trên nền đất quê nhà dường như được đánh thức từ đại thi hào Nguyễn Du. Đó là tiền đề để ông tạo nên bộ phụ bản Kiều vào thập niên 1960.  Thế nên Nguyễn Tư Nghiêm không đi theo lối minh họa trực tiếp cốt truyện mà khai thác chiều sâu tâm lý, tính cách và cảm xúc của mỗi nhân vật, tình huống, sự việc trong“Truyện Kiều”.

Vì vậy, bộ tranh Kiều còn đặc biệt ở chỗ nó không lệ thuộc vào văn bản văn học. Người xem có thể không thuộc “Truyện Kiều”, thậm chí không nắm rõ cốt truyện, nhưng vẫn cảm nhận được chiều sâu bi kịch và vẻ đẹp văn hóa toát ra từ tranh. Điều này cho thấy tác phẩm hội họa đã đạt đến độ độc lập thẩm mỹ, đứng vững bằng chính ngôn ngữ của mình, chứ không dựa vào hào quang của văn bản gốc.

Họa sĩ Thu Giang, vợ của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm chia sẻ rằng, trước khi về làm vợ ông, thỉnh thoảng bà theo cha, nhà văn Nguyễn Tuân sang hầu chuyện và được nghe kể về bộ tranh Kiều. Sau này, nhiều lần ông mang ra để vẽ lại, nhưng vẽ xong ông lại xé đi. “Đó là giai đoạn ông chịu nhiều đau khổ và đơn độc nhất”. Bà nói. Ông “giữ khư khư” bộ tranh Kiều và dặn bà, phải tìm người thật tin tưởng mới được công bố. Hiện bà mới chỉ giới thiệu 26 bức trong 36 tác phẩm Kiều của danh họa.

Bộ tranh Kiều của họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm tiếp tục kéo dài truyền thống vẽ Kiều khởi từ đầu thế kỷ XX với sự tham gia của nhiều danh họa như Nguyễn Tường Lân, Nguyễn Gia Trí, Trần Văn Cẩn, Tô Ngọc Vân, Lê Thị Lựu, Lê Phổ, Nguyễn Văn Tỵ, Nguyễn Đỗ Cung, Mai Trung Thứ, Vũ Cao Đàm, Mạnh Quỳnh… và ngay hôm nay, dòng chảy ấy vẫn tiếp tục khi nhiều họa sĩ đương đại cảm tác từ “Truyện Kiều” như họa sĩ Đặng Xuân Hòa, họa sĩ Đinh Quân, họa sĩ Đặng Tiến...

Có thể nói, cuộc hội tụ của 3 di sản Truyện Kiều - chữ quốc ngữ Nguyễn Văn Vĩnh và tranh Kiều Nguyễn Tư Nghiêm một lần nữa khẳng định giá trị của những di sản mà cha ông đã kiến tạo, cần được gìn giữ, trao truyền. 

Việt Linh

Trong quá trình hoạt động, các đối tượng sử dụng nhiều loại hóa chất độc hại như axit sulfuric, axit nitric, oxy già, vôi, xi măng, trấu, lá kẽm …, phát sinh lượng lớn nước thải và chất thải rắn nguy hại. Toàn bộ số chất thải này được các đối tượng chỉ đạo nhân viên đổ trực tiếp ra phía sau xưởng, với khối lượng ước tính từ 3 đến 4 tấn, gây nguy cơ ô nhiễm nghiêm trọng khu vực ven sông, đặc biệt khu vực này gần Nhà máy nước mặt sông Đuống.

Những ngày giáp Tết, khi nhiều người chuẩn bị trở về quê sum họp, tấm vé xe bỗng trở thành nỗi lo thường trực của hàng triệu lao động xa nhà. Trong lúc vé chính thống khan hiếm, trên mạng xã hội lại xuất hiện hàng loạt lời rao bán “còn vé Tết”, “bao lên xe”, “giữ chỗ nhanh”. Không ít người vì nôn nóng đã sập bẫy, để rồi mất tiền, mất vé…

Sáng 28/1, TAND TP Hà Nội tiếp tục phiên tòa xét xử bị cáo Huỳnh Nguyễn Lộc (cựu Viện trưởng Viện Y dược học dân tộc TP Hồ Chí Minh) cùng 22 bị cáo khác là cựu lãnh đạo 13 bệnh viện y dược cổ truyền, trung tâm y tế trên cả nước trong vụ án “Đưa hối lộ”, “Nhận hối lộ” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với tổng số tiền hối lộ tới 71 tỷ đồng.

Giữa vùng đất Abyei (châu Phi) khắc nghiệt nắng gió, những người lính mũ nồi xanh Việt Nam không chỉ mở những tuyến đường vì hòa bình mà còn lặng lẽ gieo những hạt mầm tri thức, vun đắp tương lai cho trẻ em nơi đây bằng những việc làm giản dị, bền bỉ và giàu tính nhân văn.

Chỉ trong ngày đầu tiên thực hiện chương trình “Đổi vũ khí - vật liệu nổ - công cụ hỗ trợ nhận quà Tết”, người dân trên địa bàn xã Phúc Trạch, tỉnh Hà Tĩnh đã mang 14 khẩu súng đến trụ sở Công an xã để đổi lấy bánh chưng, gạo nếp, lịch tết CAND...

Liên quan đến vụ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP Hồ Chí Minh vừa triệt phá đường dây sơ chế, tiêu thụ thịt ốc bươu ngâm bằng hóa chất natri silicate (thường gọi là “thủy tinh lỏng”) với quy mô đặc biệt lớn, tại địa chỉ số 60 đường Rạch Cát Bến Lức, phường Bình Đông, chủ cơ sở này đã có những lời khai ban đầu khiến người nghe hoang mang và bức xúc...

Sau hơn 1 thập kỷ hiện diện quân sự tại Syria, Mỹ đang cân nhắc rút toàn bộ lực lượng còn lại khỏi quốc gia Trung Đông này. Những thay đổi nhanh chóng trên thực địa, sự suy yếu của đối tác địa phương từng được Washington hậu thuẫn, cùng các tranh luận ngày càng rõ nét trong chính giới Mỹ khiến câu hỏi “ở lại hay rút lui” trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.

Theo Nghị quyết số 254/2025/QH15 của Quốc hội, một thay đổi quan trọng trong quản lý thị trường bất động sản sẽ chính thức có hiệu lực trong năm 2026: Thông tin thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất sẽ không còn được ghi trực tiếp lên Giấy chứng nhận (sổ đỏ, sổ hồng).

©2004. Bản quyền thuộc về Báo Công An Nhân Dân.
®Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Báo Công An Nhân Dân.
English | 中文