Dịch ngược và sự cần thiết với văn học Việt Nam

08:43 01/04/2025

Trong mục tiêu chiến lược “quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam ra thế giới”, đối tượng mà nền văn học của chúng ta cần hướng đến, một cách mạnh mẽ nhất, không phải độc giả quốc nội, mà là độc giả thuộc các nền văn học dân tộc khác, các ngôn ngữ/ chữ viết khác nằm ngoài biên giới quốc gia. Để làm được điều ấy, buộc phải nói đến hoạt động dịch văn học và sản phẩm của nó: các tác phẩm văn học dịch.

Bước đầu của “dịch ngược” trong văn học Việt Nam

Xét ở phương diện lịch sử vấn đề, hoạt động “dịch ngược” này ở văn học Việt Nam là khá muộn so với nhiều nền văn học trên thế giới, và có lẽ nó được bắt đầu bằng việc dịch một danh tác của văn học Việt Nam trung đại: tác phẩm “Truyện Kiều” của đại thi hào Nguyễn Du. Điều đáng chú ý: đây là một quá trình liên tục, xuyên suốt kể từ trước năm 1945 cho đến tận bây giờ.

Trước năm 1945 chúng ta đã có các bản dịch Kiều sang tiếng Pháp của các dịch giả như Paulus Của, Nguyễn Văn Vĩnh..., sau năm 1945 chúng ta có bản Kiều được dịch sang tiếng Pháp (được đánh giá là tốt nhất) của bác sỹ Nguyễn Khắc Viện (xuất bản năm 1965, kỷ niệm 200 năm sinh Nguyễn Du), rồi nhà nghiên cứu văn học, PGS, TS Trương Đăng Dung dịch Kiều sang tiếng Hungary vào những năm 1980, và vài năm gần đây là các bản dịch Kiều sang Anh ngữ của các dịch giả Nguyễn Bình và Dương Tường. (Ở hội thảo “Nguyễn Du và những vấn đề lý luận văn học nghệ thuật trung đại Việt Nam” do Trung tâm nghiên cứu Quốc học tổ chức, dịch giả Nguyễn Minh Hoàng cho biết “Truyện Kiều” đã được dịch ra 16 thứ tiếng, từ những thứ tiếng phổ biến như Anh, Pháp, Đức, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc... đến những thứ tiếng mà chúng ta không bao giờ ngờ đến: Hy Lạp, Mông Cổ, Arab... Tuy nhiên theo ghi nhận của nhà nghiên cứu văn học, PGS, TS Đoàn Lê Giang thì “Truyện Kiều” đã được dịch ra hơn 20 thứ tiếng với trên 60 bản dịch khác nhau).

Tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh được dịch ra nhiều thứ tiếng.

Lấy ra một ví dụ như vậy là để thấy vài khía cạnh trong sự quan tâm của các dịch giả nước ngoài đối với văn học Việt Nam. Họ quan tâm vì những giá trị nghệ thuật to lớn, những giá trị nhân văn tốt đẹp nằm ở bản thân tác phẩm “Truyện Kiều”. Họ yêu mến những giá trị ấy và mong muốn chúng được lan tỏa trong đời sống tinh thần của nhân dân nước mình thông qua việc chuyển ngữ từ tiếng Việt.

Nhưng vẫn còn một lý do nữa: ấy là nỗ lực tìm hiểu tại sao nhân dân Việt Nam lại yêu thích “Truyện Kiều” đến như vậy, bất chấp khoảng cách thời gian giữa câu chuyện được kể lại với bối cảnh văn hóa xã hội hiện tại của người đọc/ tiếp nhận tác phẩm? Trả lời được câu hỏi này, có thể nói, các dịch giả nước ngoài và những người đọc nước ngoài đã giải mã được một bí mật trong thế giới tình cảm và đời sống tâm hồn của người Việt Nam.

Quảng bá đất nước, con người Việt Nam bằng văn học

Kể từ sau năm 1954, việc dịch các tác phẩm văn học Việt Nam từ tiếng Việt sang các thứ tiếng, các ngôn ngữ/ chữ viết nước ngoài vẫn tiếp tục được thực hiện, song trong những giai đoạn khác nhau lại kèm theo những đặc điểm cũng rất khác nhau.

Có thể nhận thấy khá rõ hai giai đoạn: từ 1954 đến trước Đổi mới (1986); từ Đổi mới đến nay. Ở giai đoạn thứ nhất, trong bối cảnh chiến tranh  và bối cảnh rộng hơn là Chiến tranh lạnh trên phạm vi toàn thế giới, thì việc dịch văn học Việt Nam ra các thứ tiếng nước ngoài chủ yếu do các dịch giả thuộc những nước trong khối Xã hội Chủ nghĩa thực hiện: Liên Xô, CHDC Đức, Tiệp Khắc, Ba Lan, Bulgary, Hungary, Triều Tiên, Cuba... Đối tượng dịch của họ chủ yếu là các tác giả, tác phẩm tiêu biểu thuộc dòng văn học cách mạng, chiến tranh và yêu nước: Hồ Chí Minh, Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Chính Hữu, Tô Hoài, Nguyễn Tuân, Nguyễn Thi, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Lâm Thị Mỹ Dạ, Trần Đăng Khoa...

Tính mục đích ý thức hệ ở đây khá rõ ràng: các dịch giả văn học nước ngoài hết lòng ủng hộ cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam, và do đó, qua các bản dịch văn học, họ mong muốn người đọc nước mình cũng như người đọc toàn thế giới hiểu biết thêm về một nhân dân Việt Nam yêu chuộng hòa bình nhưng anh hùng và tràn đầy tinh thần cách mạng, một đất nước Việt Nam luôn kiên cường trên tuyến đầu chống lại chủ nghĩa đế quốc để giành lấy độc lập dân tộc và thống nhất quốc gia. Hình ảnh đất nước và con người Việt Nam trong chiến tranh đã được quảng bá như thế, qua những nỗ lực dịch thuật của các dịch giả văn học người nước ngoài.

Ở giai đoạn thứ hai, từ Đổi mới đến nay, bên cạnh việc tiếp tục dịch và giới thiệu các tác phẩm thuộc dòng văn học cách mạng, chiến tranh và yêu nước, các dịch giả nước ngoài đã có sự tập trung lớn vào nền văn học đương đại, tức là nền văn học của một đất nước Việt Nam hậu chiến, một đất nước Việt Nam đã chuyển từ cơ chế quản lý tập trung, quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường, mở cửa và hội nhập mạnh mẽ với thế giới bên ngoài. Đối tượng dịch của họ đương nhiên là các tác giả, tác phẩm tiêu biểu, những nhân tố cơ bản nhất làm hình thành diện mạo của văn học Việt Nam thời đổi mới và hậu đổi mới.

Người ta có thể thấy trong danh sách tác phẩm văn học được chuyển ngữ từ tiếng Việt sang các thứ tiếng nước ngoài ở giai đoạn này là những tác phẩm cuối đời của Nguyễn Minh Châu, là các tiểu thuyết “Thời xa vắng” của Lê Lựu, “Bến không chồng” của Dương Hướng, “Mảnh đất lắm người nhiều ma” của Nguyễn Khắc Trường, “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh, là các truyện ngắn và thơ của Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Quang Thân, Nguyễn Quang Thiều, Lê Minh Khuê, Dạ Ngân, Hồ Anh Thái, Võ Thị Hảo, Ý Nhi, Dư Thị Hoàn, Phan Thị Thanh Nhàn, Y Ban, Trần Thùy Mai, Nguyễn Quang Lập, Sương Nguyệt Minh v.v...

Và trẻ nhất trong số các tác giả được dịch này, tính cho đến nay, là những nhà văn sinh ra vào khoảng giữa thập niên 1970, như Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Ngọc Thuần, Đỗ Bích Thúy, Phong Điệp... Dĩ nhiên là có sự không đồng đều về tác phẩm giữa các tác giả văn học Việt Nam được chọn dịch: có những tác giả là nhiều tiểu thuyết, tập truyện ngắn hay tập thơ, nhưng cũng có những tác giả chỉ là vài truyện ngắn hoặc vài bài thơ được dịch và in trong các tuyển tập gồm nhiều tác giả.

Các dịch giả nước ngoài muốn biết điều gì? Không khó để có câu trả lời: họ muốn biết về đất nước Việt Nam thời hậu chiến và sau đó, đổi mới, về cuộc sống của con người Việt Nam khi chuyển dịch từ trạng thái chiến tranh sang trạng thái đời thường không tiếng súng; về những vui buồn, được mất, hạnh phúc và đau khổ của con người trong bối cảnh một xã hội đang vận hành theo các quy luật kinh tế thị trường, công nghiệp hóa và đô thị hóa mạnh mẽ, trong khi những vấn đề di chứng chiến tranh và hòa hợp, hòa giải dân tộc vẫn chưa thực sự chấm dứt, và các vấn đề về toàn cầu hóa, yêu cầu giữ gìn bản sắc văn hóa, sự kết nối giữa truyền thống và hiện đại thì ngày càng được đặt ra và nổi lên một cách rất bức thiết.

Cho đến lúc này, về việc “quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam” thông qua hoạt động dịch các tác phẩm văn học Việt Nam sang các thứ tiếng, các ngôn ngữ/ chữ viết nước ngoài, chủ yếu là do các dịch giả văn học người nước ngoài thực hiện. Họ có thể làm công việc này một cách độc lập, hoặc làm dưới sự bảo trợ của các chính phủ, các trường đại học, các trung tâm văn hóa quốc tế (ví dụ như Trung tâm William Joiner mà cựu chiến binh, giáo sư, nhà thơ người Mỹ Kevin Bowen từng làm giám đốc, chuyên nghiên cứu hậu quả của chiến tranh thông qua văn học). Họ làm vì tình cảm yêu mến đất nước và con người Việt Nam, làm với sự nỗ lực bắc những nhịp cầu thông hiểu giữa nhân dân toàn thế giới với nhân dân Việt Nam.

Nhưng đó là những nỗ lực từ một phía. Còn ở phía kia, phía Việt Nam, không khó để quan sát thấy rằng những nỗ lực như vậy là khá yếu. Chúng ta gần như thụ động trong việc dịch và giới thiệu các tác phẩm văn học của Việt Nam chúng ta với người đọc thế giới. Hãn hữu lắm mới có trường hợp tác giả văn học Việt Nam tự dịch tác phẩm của mình hoặc của các đồng nghiệp trong nước từ tiếng Việt ra các thứ tiếng nước ngoài. Nếu coi đây là “xuất khẩu văn chương”, thì gọi nó là xuất khẩu văn chương theo con đường “tiểu ngạch” hẳn cũng không xa sự thực là mấy.

Việc “quảng bá hình ảnh đất nước con người Việt Nam” thông qua văn học - nói chính xác: thông qua hoạt động dịch văn học - cần một con đường chính ngạch. Nghĩa là nó phải nằm trong, trở thành một phần cơ bản trong chiến lược phát triển văn hóa của nhà nước. Phải xây dựng và phát triển được một tổ chức “dịch ngược” văn học Việt Nam tương đương như “Viện dịch thuật văn học Hàn Quốc” của Hàn Quốc: họ chuyên chú, quyết liệt vào việc dịch các tác phẩm xuất sắc, đáng chú ý, chỉ của văn học Hàn Quốc mà thôi, ra các thứ tiếng nước ngoài, nhất là các ngôn ngữ/ chữ viết vào loại “mạnh” trên thế giới.

Nếu chúng ta xây dựng và phát triển được một cơ quan/ tổ chức “dịch ngược” như vậy, với điều kiện là phải có sự đầu tư về cả kinh phí lẫn con người, thì việc dịch và giới thiệu các giá trị của văn học Việt Nam - từ trung đại đến hiện đại và đương đại - sẽ thực sự là hoạt động mang tính chủ động cao. Và càng chủ động bao nhiêu, chắc chắn, càng đạt hiệu quả cao bấy nhiêu trong việc “quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam” bằng văn học.

Hoài Nam

Giữa dòng xe cộ đông đúc của Hà Nội, những “mắt thần” AI vẫn lặng lẽ hoạt động, quan sát và phân tích từng chuyển động. Camera AI không chỉ giúp phát hiện vi phạm giao thông mà còn đang góp phần thay đổi thói quen, hành vi của không ít người dân từ sự tùy tiện, vô tư vi phạm luật sang ý thức tự giác. Một cuộc chuyển đổi âm thầm nhưng sâu sắc đang diễn ra.

Sản phẩm các đối tượng tập trung gồm các loại sữa dành cho những người bị tiểu đường, suy thận, trẻ sinh non, thiếu tháng và phụ nữ có thai. Các thành phần công bố sản phẩm như chiết xuất tổ yến, đông trùng hạ thảo, bột macca, bột óc chó... nhưng thực tế hoàn toàn không có những chất này. Các đối tượng đã bỏ một số nguyên liệu đầu vào và thay thế, bổ sung thêm một số chất phụ gia.

Là xã miền núi còn nhiều gian khó của tỉnh Thanh Hóa, hành trình chuyển đổi số ở Yên Thắng khởi nguồn từ những điều rất đỗi giản dị, một tấm Căn cước được cấp đúng hạn, một thủ tục hành chính được giải quyết nhanh gọn, hay một người dân lần đầu tiên biết sử dụng dịch vụ công trực tuyến... Ẩn sau những chuyển động tưởng chừng nhỏ bé ấy là quá trình bền bỉ, tận tụy và sáng tạo của Công an xã Yên Thắng, với tinh thần xuyên suốt “Vì nhân dân phục vụ”.

Rạng sáng 16/4 (giờ Việt Nam), Bayern Munich đã tạo nên một trong những trận cầu đáng nhớ nhất mùa giải khi đánh bại Real Madrid với tỷ số 4-3 ở lượt về tứ kết UEFA Champions League 2025/2026. Kết quả này giúp đại diện Bundesliga giành vé vào bán kết với tổng tỷ số 6-4 sau hai lượt trận.

Với những người chiến sĩ CAND khoác lên mình sắc xanh lá mạ, vinh dự, tự hào nhưng trách nhiệm cũng rất nặng nề, Công an xã Cẩm Hưng đã và đang ngày đêm giữ cho thế trận an ninh nhân dân vững chắc, đảm bảo an ninh, trật tự để mang lại bình yên trên quê hương cố Tổng Bí thư Hà Huy Tập.

Ngày 15/4, Đoàn công tác Bộ Công an Việt Nam do Thượng tướng Phạm Thế Tùng, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Công an, Trưởng Ban Chỉ đạo Đề án 05 CAND Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hoà bình Liên hợp quốc (GGHB LHQ) đã đến Thủ đô Bangui, Cộng hòa Trung Phi, bắt đầu chuyến thăm và làm việc tại Phái bộ GGHB LHQ tại Cộng hoà Trung Phi (MINUSCA). Đoàn công tác đã đến chào xã giao ngài Amadou Fofana, Quyền Tư lệnh Cảnh sát Phái bộ MINUSCA; Thiếu tướng Maychel Asmi, Phó Tư lệnh Quân đội Phái bộ MINUSCA.

Trong bối cảnh cuộc khủng hoảng Iran gây ra hiệu ứng khốc liệt với kinh tế thế giới, việc Washington và Tehran cùng chấp nhận thỏa thuận ngừng bắn tạm thời hôm 8/4 là “khoảng thở” quý giá cho toàn cầu. Đứng sau sự kiện này không phải những cường quốc phương Tây hay các nước Vùng Vịnh giàu có, mà là Pakistan - quốc gia đã khéo léo sử dụng vị thế đặc thù để kết nối hai đối thủ.

Trong khi các ngân hàng và cơ quan tài chính toàn cầu liên tục siết chặt những “tấm lưới” chống rửa tiền bằng trí tuệ nhân tạo (AI) và các thuật toán phân tích dữ liệu, một thực tế đang dần lộ rõ: các tổ chức tội phạm không chỉ tìm cách né tránh hệ thống, mà ngày càng học cách vận hành ngay bên trong hệ thống đó. Cuộc chiến chống rửa tiền vì thế không chỉ là cuộc đấu công nghệ. Ở tầng sâu hơn, đó là cuộc đấu về khả năng hiểu đối phương: hệ thống hiểu tội phạm đến đâu, khi tội phạm đang nghiên cứu hệ thống ngày càng kỹ hơn.

Trải qua 80 năm hình thành, xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, dưới ánh sáng soi đường của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy Sáu điều Bác Hồ dạy CAND làm kim chỉ nam rèn luyện đạo đức người Công an Cách mạng, dù trong bất cứ hoàn cảnh khó khăn nào, lực lượng Tham mưu CAND nói chung và Công an Thủ đô nói riêng luôn giữ vững phẩm chất chính trị cách mạng, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó; xứng đáng là “bộ óc thứ hai”, là “cánh tay nối dài” của các cấp lãnh đạo, chỉ huy Công an.

©2004. Bản quyền thuộc về Báo Công An Nhân Dân.
®Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Báo Công An Nhân Dân.
English | 中文