Nhật Bản nới quy định xuất khẩu quốc phòng
Theo Viện nghiên cứu chiến lược quốc tế - HSS (Vương quốc Anh), việc Nhật Bản nới lỏng đáng kể các hạn chế đối với xuất khẩu quốc phòng sẽ tạo ra những cơ hội thương mại và ngoại giao quan trọng. Nhưng, trước hết, họ cần giải quyết các vấn đề về năng lực công nghiệp quốc phòng.
Nới lỏng dần dần
Cuối tháng 4/2026, nội các của Thủ tướng Nhật Bản Sanae Takaichi đã sửa đổi các quy định hạn chế xuất khẩu thiết bị và công nghệ quốc phòng của Nhật Bản bằng việc điều chỉnh 3 nguyên tắc về chuyển giao thiết bị và công nghệ quốc phòng theo đề xuất của liên minh cầm quyền - đảng Dân chủ Tự do (LDP), được sự ủng hộ của đảng Duy tân Nhật Bản (JIP).
Động thái này bao gồm việc bãi bỏ quy định trước đây vốn chỉ cho phép Nhật Bản chuyển giao các sản phẩm quốc phòng hoàn chỉnh thuộc 5 loại thiết bị phi sát thương: cứu hộ, vận tải, cảnh báo, giám sát và rà phá thủy lôi. Chính phủ đặt mục tiêu tăng cường xuất khẩu quốc phòng, từ đó củng cố khả năng răn đe của Tokyo, nâng cao cơ sở công nghiệp quốc phòng của đất nước và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Việc nới lỏng đáng kể các quy định diễn ra sau nhiều năm Nhật Bản nỗ lực từng bước giảm bớt những hạn chế tự áp đặt đối với việc chuyển giao quốc phòng. Bước đi lớn nhất diễn ra vào năm 2014, khi Thủ tướng Shinzo Abe đưa ra 3 nguyên tắc về chuyển giao thiết bị và công nghệ quốc phòng. Tháng 3/2024, chính quyền Kishida đã cho phép xuất khẩu máy bay chiến đấu thế hệ tiếp theo được phát triển theo Chương trình không quân chiến đấu toàn cầu (GCAP) - chương trình hợp tác giữa Italy, Nhật Bản và Anh, sang các nước thứ ba. Chính quyền hiện tại của bà Takaichi đã coi việc bãi bỏ 5 loại thiết bị phi sát thương này là một trong những chính sách an ninh cốt lõi, như đã nêu trong thỏa thuận liên minh LDP - JIP.
Ngoài việc bãi bỏ 5 loại thiết bị phi sát thương, hướng dẫn sửa đổi chia thiết bị và công nghệ quốc phòng thành 2 nhóm cơ bản: vũ khí và năng lực phi sát thương. Không có hạn chế xuất khẩu đối với thiết bị phi sát thương, trong khi xuất khẩu thiết bị sát thương sẽ được cho phép đối với 17 quốc gia mà Nhật Bản có Hiệp định chuyển giao thiết bị và công nghệ (ETTA). Bản sửa đổi cũng cho phép chuyển giao vũ khí được phát triển và sản xuất chung với các quốc gia khác và bán cho nước thứ ba vũ khí được sản xuất theo giấy phép tại Nhật Bản.
Tuy nhiên, nếu bên mua tiềm năng tham gia xung đột vũ trang, Tokyo sẽ chỉ cho phép bán trong những trường hợp ngoại lệ (và sản phẩm liên quan đến GCAP sẽ không được bán cho các quốc gia đang có chiến tranh trong mọi trường hợp). Các hướng dẫn sửa đổi cũng sẽ giữ nguyên yêu cầu phải có sự phê chuẩn của Hội đồng An ninh quốc gia đối với mọi loại vũ khí được xuất khẩu lần đầu.
Giám sát của Quốc hội đối với xuất khẩu quốc phòng là một vấn đề nhạy cảm về chính trị. Theo hướng dẫn mới, chính phủ chỉ cần thông báo cho Quốc hội việc chuyển giao vũ khí sau khi Hội đồng An ninh quốc gia đánh giá rằng việc đó có thể được thông qua. Tuy nhiên, các đảng đối lập đã đệ trình đề xuất yêu cầu thông báo trước với Quốc hội.
Các cuộc thăm dò dư luận gần đây cho thấy sự ủng hộ ngày càng tăng từ công chúng Nhật Bản đối với vai trò mở rộng của nước này như một nhà xuất khẩu quốc phòng. Một cuộc thăm dò ghi nhận 68% người được hỏi ủng hộ việc Tokyo “thúc đẩy” xuất khẩu thiết bị quốc phòng, trong khi một cuộc thăm dò năm 2013, 66% phản đối bất kỳ sự nới lỏng nào đối với xuất khẩu quốc phòng.
Lý do chiến lược
Mục tiêu chính của việc bãi bỏ 5 loại thiết bị phi sát thương và đơn giản hóa các hướng dẫn xuất khẩu là để tăng xuất khẩu quốc phòng. Mặc dù đã sửa đổi 3 nguyên tắc vào năm 2014, nhưng xuất khẩu các sản phẩm hoàn chỉnh kể từ đó vẫn chỉ giới hạn ở 3 radar J/FPS-3 cố định và 1 radar J/TPS-P14 di động sang Philippines vào năm 2020, cùng với thỏa thuận phát triển và sản xuất chung 11 khinh hạm lớp Mogami được nâng cấp với Australia vào năm 2025.
Tuy nhiên, sự quan tâm từ nước ngoài đối với các nền tảng quốc phòng của Nhật Bản ngày càng gia tăng, như Indonesia muốn mua tàu ngầm và khinh hạm đã qua sử dụng, Philippines quan tâm đến tên lửa đất đối không tầm trung Type-03 và New Zealand muốn mua khinh hạm lớp Mogami được nâng cấp.
Đề xuất sửa đổi các hướng dẫn cũng nêu rõ 2 động lực chiến lược: Thứ nhất, Tokyo đặt mục tiêu thông qua chuyển giao quốc phòng để tăng cường khả năng răn đe, năng lực phản ứng và khả năng tương tác với Mỹ cùng các đối tác chiến lược của nước này.
Việc chuyển giao radar cho Philippines đã góp phần giám sát các hoạt động của Trung Quốc ở phía Nam Biển Đông, trong khi việc cùng phát triển khinh hạm với Australia đã tăng cường khả năng phối hợp với Lực lượng Phòng vệ biển Nhật Bản, lực lượng đang vận hành các khinh hạm lớp Mogami. Sự hợp tác như vậy góp phần định hình một môi trường an ninh có lợi cho Nhật Bản bằng cách giải quyết thách thức chiến lược ở khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.
Thứ hai, Chính phủ Nhật Bản muốn củng cố nền tảng công nghiệp quốc phòng thông qua Chiến lược Quốc phòng năm 2022, vốn đã xác định tính bền vững và khả năng chống chịu, gồm kho dự trữ đạn dược và an ninh nhiên liệu, là một trong những năng lực chủ chốt cần được tăng cường cơ bản. Ngoài ra, những bất định liên quan đến cam kết của Mỹ đối với khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, cũng như việc Mỹ cần thúc đẩy nền tảng công nghiệp quốc phòng của riêng mình, ngày càng đòi hỏi ngành công nghiệp quốc phòng Nhật Bản phải lập kế hoạch cho năng lực sản xuất bền vững.
Tính cấp bách càng tăng lên khi trong 20 năm qua, đã có hơn 100 công ty Nhật Bản rút khỏi lĩnh vực sản xuất quốc phòng do lợi nhuận thấp và lo ngại về uy tín, làm thu hẹp cơ sở cung ứng. Việc mở rộng cơ hội xuất khẩu một phần nhằm duy trì các nhà sản xuất còn lại bằng cách thúc đẩy quy mô kinh tế.
Việc chuyển giao quốc phòng thông qua phát triển và mua sắm chung, cũng như thông qua sản xuất theo giấy phép ở nước ngoài, có thể tăng cường khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng quốc phòng Nhật Bản, đồng thời tạo thêm dư địa và phân tán năng lực sản xuất trên phạm vi quốc tế.