Tận dụng FTA, đẩy mạnh xuất khẩu gạo vào thị trường giá trị cao
Trong bối cảnh thị trường xuất khẩu biến động do ảnh hưởng từ xung đột Trung Đông và chi phí logistics gia tăng, ngành lúa gạo Việt Nam đang đối mặt với nhiều áp lực mới. Trước những thách thức này, Bộ Công Thương đưa ra loạt giải pháp mới thúc đẩy xuất khẩu gạo.
Giá gạo thế giới giảm
Thị trường gạo toàn cầu đang bước vào giai đoạn điều chỉnh khi giá liên tục giảm so với cùng kỳ năm trước. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, chỉ số Gạo Trắng Oryza (WRI) hiện ở mức 397 USD/tấn, giảm tới 68 USD/tấn, phản ánh xu hướng giảm giá trong bối cảnh nguồn cung gia tăng và nhu cầu có dấu hiệu chững lại.
Hiện, giá gạo thơm xuất khẩu 5% tấm của Việt Nam được chào bán ở mức 400–415 USD/tấn; gạo Jasmine dao động 430–434 USD/tấn. Dù vẫn cao hơn so với Thái Lan (381–385 USD/tấn) và Ấn Độ (351–355 USD/tấn), nhưng mức giá này đã giảm đáng kể so với cùng kỳ năm ngoái.
Theo thống kê sơ bộ của Cục Hải quan (Bộ Tài chính), 2 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu khoảng 1,27 triệu tấn gạo, đạt 594 triệu USD, tăng 3,5% về khối lượng nhưng giảm 11,9% về giá trị so với cùng kỳ năm trước do giá xuất khẩu gạo bình quân giảm mạnh.
Không chỉ chịu áp lực từ cung – cầu, thương mại gạo toàn cầu còn bị chi phối bởi yếu tố địa chính trị. Những tác động từ thị trường thế giới nhanh chóng lan sang trong nước, khiến ngành lúa gạo Việt Nam đối mặt với không ít khó khăn. Dù năng suất vụ Đông Xuân đạt cao, giá lúa lại giảm mạnh, kéo theo lợi nhuận của nông dân bị thu hẹp.
Tại Đồng bằng sông Cửu Long, giá lúa giảm sâu so với cùng kỳ, như giống OM18 chỉ còn khoảng 5.800 đồng/kg trong khi chi phí sản xuất, nhân công và thu hoạch đều tăng, khiến lợi nhuận nông dân bị thu hẹp. Thị trường thu mua cũng kém sôi động, nhiều nơi đến sát ngày gặt mới có thương lái, đẩy nông dân vào thế bị động, dễ bị ép giá.
Theo ông Nguyễn Văn Thành, Giám đốc Công ty TNHH SX-TM Phước Thành IV (Vĩnh Long), cho biết ngành gạo tiếp tục đối mặt khó khăn trong năm 2026 do tồn kho tại nhiều thị trường nhập khẩu còn cao, khiến nhu cầu mua chậm và chủ yếu là các đơn hàng nhỏ thăm dò. Doanh nghiệp hiện vẫn thận trọng, theo dõi thị trường trước khi đẩy mạnh thu mua. Philippines đã nhập khẩu trở lại nhưng không còn các hợp đồng lớn như trước.
Theo ông Thành, tác động từ các xung đột địa chính trị tại Trung Đông đã khiến giá cước vận tải quốc tế tăng cùng với đó, lãi suất vay ngân hàng hiện ở mức 8 – 10%/năm khiến nhiều doanh nghiệp gặp khó khi thu mua và dự trữ lúa gạo.
Trao đổi với PV Báo CAND chiều 21/3, ông Phạm Thái Bình, Chủ tịch HĐQT CTCP Nông nghiệp Công nghệ cao Trung An cho biết, xung đột địa chính trị tại Trung Đông đang tác động mạnh đến giá năng lượng và chuỗi cung ứng toàn cầu. Theo ông, mức độ ảnh hưởng diễn ra nhanh và nặng hơn cả thời kỳ COVID-19, khiến hàng hóa lưu thông chậm, giao dịch đình trệ khi cả bên bán lẫn bên mua đều gặp khó khăn. Hiện, xuất khẩu gạo đang chịu áp lực lớn khi chi phí logistics, đặc biệt là cước vận tải và giá nhiên liệu, tăng mạnh, tác động tới toàn bộ chuỗi cung ứng. Nhiều thị trường như Trung Đông, châu Âu bị gián đoạn, tình trạng thiếu container khiến tiến độ giao hàng bị chậm, dù doanh nghiệp đã có đơn hàng.
Cụ thể, tại thị trường Malaysia, doanh nghiệp cần khoảng 45–50 container nhưng chỉ được hãng tàu cấp 10 container, thời gian giao hàng phải lùi sang đầu tháng 4, ảnh hưởng đến kế hoạch kinh doanh. Tương tự, với thị trường EU, nhu cầu 20 container nhưng mới xuất được 5 container; chi phí vận chuyển cũng tăng mạnh từ khoảng 1.500 EUR/container lên 2.800 EUR/container, trong khi vẫn khó tìm container.
Trong nước, tiêu thụ lúa gặp khó, doanh nghiệp muốn thu mua tạm trữ cho nông dân nhưng bị hạn chế bởi hạn mức tín dụng. Muốn đẩy mạnh thu mua, cần được ngân hàng cho vay vượt hạn mức để chủ động sấy, lưu kho và chờ thời điểm xuất khẩu phù hợp, tránh bán giá thấp khiến nông dân thiệt hại. Một số thị trường như Nhật Bản, Australia, EU với gạo chất lượng cao, phát thải thấp vẫn duy trì ổn định, tuy nhiên mặt bằng giá chung vẫn phải điều chỉnh theo xu hướng giảm của thị trường thế giới.
Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu gạo
Trước áp lực tiêu thụ, các chuyên gia nhấn mạnh cần phát triển thị trường trong nước, tăng năng lực lưu trữ và luân chuyển để làm “bệ đỡ” cho xuất khẩu. Với hơn 5 triệu tấn lúa vụ Đông Xuân tại Đồng bằng sông Cửu Long cần tiêu thụ, áp lực thị trường là rất lớn, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp.
Theo đó, giải pháp trọng tâm là đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, tận dụng FTA, chuyển sang phân khúc gạo chất lượng cao, đồng thời tăng cường quản trị rủi ro và ứng dụng công nghệ để giảm chi phí, nâng sức cạnh tranh. Ngoài ra, việc ứng dụng công nghệ trong sản xuất, chế biến và logistics cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giảm chi phí, nâng cao năng lực cạnh tranh. Đây là yếu tố then chốt để ngành lúa gạo Việt Nam giữ vững vị thế trên thị trường quốc tế.
Trước diễn biến thị trường, Chính phủ đã kịp thời có các chỉ đạo nhằm tháo gỡ khó khăn cho ngành lúa gạo. Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương hỗ trợ doanh nghiệp thu mua, tiêu thụ lúa gạo, đặc biệt trong giai đoạn thu hoạch rộ. Trong đó, nhấn mạnh việc tận dụng tối đa hệ thống kho chứa, năng lực chế biến để tăng cường thu mua, góp phần ổn định thị trường. Ngân hàng Nhà nước cũng được giao chỉ đạo các tổ chức tín dụng bố trí nguồn vốn với lãi suất hợp lý, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận vốn.
Theo các chuyên gia, trong bối cảnh thị trường gạo toàn cầu biến động, việc nâng cao chất lượng, đa dạng hóa thị trường và tăng khả năng thích ứng sẽ là chìa khóa để ngành lúa gạo Việt Nam phát triển bền vững.
Trong bối cảnh thị trường xuất khẩu có nhiều biến động, Bộ Công Thương cũng đã ban hành Chỉ thị số 08/CT-BCT về thúc đẩy sản xuất, xuất khẩu gạo trong tình hình mới. Chỉ thị yêu cầu điều hành xuất khẩu gạo theo hướng linh hoạt, gắn với ổn định thị trường trong nước và bảo đảm an ninh lương thực.
Bộ Công Thương yêu cầu các đơn vị thuộc Bộ, Sở Công Thương các tỉnh, thành phố, Hiệp hội Lương thực Việt Nam và các thương nhân kinh doanh xuất khẩu gạo thực hiện nghiêm các chỉ đạo của Chính phủ; đồng thời chủ động phối hợp, triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp theo chức năng, bảo đảm thống nhất trong điều hành từ Trung ương đến địa phương.
Trong đó, Vụ Chính sách thương mại đa biên được giao tiếp tục nghiên cứu, bổ sung mặt hàng gạo vào lộ trình nghiên cứu ngành hàng trong khuôn khổ Đề án hỗ trợ doanh nghiệp tận dụng các hiệp định thương mại tự do (FTA); đồng thời thúc đẩy đàm phán với các đối tác như EU, Vương quốc Anh nhằm mở rộng hạn ngạch thuế quan, tạo dư địa cho xuất khẩu gạo vào các thị trường có giá trị cao.
Vụ Phát triển thị trường nước ngoài và hệ thống Thương vụ Việt Nam tại nước ngoài có trách nhiệm theo dõi sát diễn biến cung - cầu, giá cả và chính sách nhập khẩu tại các thị trường trọng điểm; kịp thời cung cấp thông tin, cảnh báo rủi ro, hỗ trợ doanh nghiệp xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình giao dịch, qua đó nâng cao hiệu quả xuất khẩu và hạn chế các tranh chấp thương mại.
Ở thị trường trong nước, công tác kiểm tra, kiểm soát được tăng cường nhằm bảo đảm minh bạch, xử lý các hành vi gian lận thương mại, góp phần ổn định giá cả và bảo vệ người tiêu dùng.