“Chúng ta phải làm sao đoàn kết?”
Có bề dày truyền thống yêu thương, quý trọng con người, trong tiếng Việt có một hệ thống ẩn dụ phái sinh từ các bộ phận cơ thể người. Nhiều hơn cả là danh từ chỉ không gian, địa điểm, như: lưng trời, lưng núi, lưng đèo, thân núi, thân đèo, miệng vực, chân núi, cua tay áo, mặt sông, mặt biển, mặt quê hương...
Thân người được lấy làm thước đo hình dáng hay nhịp đi của vũ trụ. Nói “đứng bóng” tức tầm giữa trưa. Thân người cũng làm thước đo sự vật gần gũi nhất. Nói “lưng cơm” tức quá nửa bát cơm. Ý thức cao nhất trong việc học tập, kế thừa bản sắc văn hóa dân tộc, trong cách nói, cách viết, Bác Hồ cũng thường sử dụng các biểu tượng chỉ cơ thể người, gần gũi, dễ hiểu, giá trị biểu cảm cao mà luôn đa dạng về hình ảnh, phong phú về hình thức, sâu sắc về ý nghĩa. Xin chứng minh qua việc Bác kêu gọi về tinh thần đoàn kết, thống nhất.
Trước năm 1945, lời kêu gọi đoàn kết của Bác tập trung rõ nhất trong “Lịch sử nước ta”. Tác phẩm chứng minh trong lịch sử, nhờ đoàn kết, dân tộc ta đã tạo nên sức mạnh to lớn. Các từ đoàn kết, kết đoàn, đồng lòng được nhắc đi nhắc lại như nhắn nhủ, như tâm tình, tha thiết: “Dân ta chỉ cốt đồng lòng là nên/ Hỡi ai con cháu Rồng Tiên/ Mau mau đoàn kết vững bền cùng nhau/ Bất kỳ nam nữ nghèo giàu/ Bất kỳ già trẻ cùng nhau kết đoàn...”.
“Lịch sử nước ta” do Việt Minh tuyên truyền Bộ xuất bản tháng 2/1942, trước đó, trên Báo Việt Nam độc lập, số 117, ngày 1/2/1942, Bác viết “Nên học sử ta”, phần kết có câu: “Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn. Vậy nay ta phải biết đoàn kết...” ("Hồ Chí Minh toàn tập", 2011, tập 3, tr 256).
“Đoàn kết làm nên sức mạnh” được Bác ý thức từ rất sớm. Ngày 23/8/1925, tại Quảng Châu, Người viết bài văn vần “Hãy yêu thương nhau và cùng nhau đoàn kết”, nêu rõ việc đoàn kết trước hết phải dựa trên cơ sở tình yêu thương để cùng hướng tới mục đích chung giải phóng dân tộc. Nội dung tác phẩm là sự trả lời câu hỏi: “Chúng ta phải làm sao đoàn kết?”. Phải là: “Hãy liên kết như thể thân mình/ Ngũ quan cùng với tay chân dính liền/ Tách rời nhau thời không thể sống”.
Nói về sự thống nhất, đoàn kết, khó có ẩn dụ nào gợi cảm, sâu sắc hơn hình tượng chính con người xương thịt của mình: “Hãy kết đoàn tương trợ lẫn nhau/ Tựa tứ chi kết lại ta sẽ thành công” (Sđd, tập 2, tr 503). Sau này, trong kháng chiến chống Pháp, ngày 18/1/1949, trong “Bài nói chuyện trong buổi bế mạc Hội nghị cán bộ của Đảng lần thứ sáu”, Bác có một câu triết lý sâu sắc về sự thống nhất, đoàn kết trong Đảng là tiền đề cho mọi thắng lợi: “Đảng ta tuy nhiều người nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người” (Sđd, tập 6, tr 17).
Trong bộ "Hồ Chí Minh toàn tập" (15 tập), có 9 lần Bác dùng hình tượng “con ngươi” để nhắc nhở về tính thống nhất, đoàn kết trong Đảng, Đảng và Nhân dân, Đảng ta với các đảng anh em. Người Việt có câu “Giàu hai con mắt...”. Là một bộ phận cơ thể quan trọng, hình ảnh “mắt”, “con ngươi” đi vào văn chương diễn tả về những điều quý giá nhất, cần bảo vệ, giữ gìn nhất.
Trong bài viết “Nhân dịp mừng Đảng ta 33 tuổi”, Bác nhấn mạnh: “Đoàn kết đã đưa Đảng ta và nhân dân ta từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Cho nên chúng ta quý trọng và ra sức bảo vệ sự đoàn kết nhất trí - trong Đảng và trong nhân dân ta cũng như giữa các đảng và giữa các nước anh em - như giữ gìn con ngươi của mình” (Sđd, tập 14, tr 33).
Ngày 18/7/1969, tức chỉ ít ngày trước khi đi xa, trong bài “Nói chuyện với các đồng chí lãnh đạo Tổng Công đoàn Việt Nam”, Bác nhắc nhở: “Phải làm đúng như lời dạy của Lênin vĩ đại: giữ gìn sự thống nhất của Đảng như con ngươi của mắt” (Sđd, tập 15, tr 684). Vấn đề đoàn kết, thống nhất được Bác hết sức quan tâm, chú ý, cũng là vấn đề trăn trở, thao thức trong Bác, “con ngươi” là một trong những hình ảnh ấn tượng nhất trong “Di chúc” thiêng liêng.
Bác dùng nhiều nhất hình tượng “bàn tay”, “nắm tay”, “cánh tay”.
Ngày 2/9/1945, lúc 19h, tức là chỉ vừa sau lễ mít-tinh lịch sử khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng h mấy tiếng đồng hồ, Người gửi thư cho đồng bào Hoa kiều: “Tôi xin thay mặt Chính phủ nhân dân lâm thời Việt Nam và toàn dân Việt Nam đưa bàn tay nồng nhiệt hoan nghênh anh em Hoa kiều sinh sống trên đất nước ta, mong rằng anh em hai nước chúng ta thân mật đoàn kết...” ("Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử", 2006. NXB Chính trị Quốc gia, tập 2, tr 290).
Điều này cho thấy Bác Hồ hết sức chú ý tới tình hữu nghị hai nước Việt - Trung, thể hiện một tầm nhìn không chỉ ở hiện tại mà hướng về tương lai. Hình ảnh “bàn tay” hữu nghị này mãi là biểu tượng của tất cả những ai mong muốn hòa bình.
Ngày 1/6/1946, Người có “Thư gửi đồng bào Nam bộ”: “Tôi khuyên đồng bào đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi. Năm ngón tay cũng có ngón vắn ngón dài. Nhưng vắn dài đều họp nhau lại nơi bàn tay. Trong mấy triệu người cũng có người thế này thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta” ("Hồ Chí Minh toàn tập". Sđd, tập 4, tr 280).
Lá thư này Bác gửi trước ngày lên đường sang Pháp cùng với lời “hứa với đồng bào rằng Hồ Chí Minh không phải là người bán nước”. Không chỉ là lời hứa, lá thư còn là lời khuyên, lời nhắn nhủ. Biểu tượng bàn tay có sức chinh phục rất mạnh vì quen thuộc, gần gũi, nhất là sự so sánh dựa trên cơ sở tương đồng cao tạo nên giá trị biểu cảm lớn.
Tháng 9/1958, về thăm tỉnh miền núi Yên Bái, Người nói: “Tỉnh nhà có 10 dân tộc anh em. Trước kia bọn thực dân phong kiến chia rẽ chúng ta, chia rẽ các dân tộc, xúi giục dân tộc này hiềm khích oán ghét dân tộc khác để chúng áp bức bóc lột chúng ta. Nay chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ. Ví dụ: 10 dân tộc ở tỉnh nhà như 10 ngón tay. Nếu xòe 10 ngón tay mà bẻ từng ngón, như thế có dễ bẻ không? Nếu nắm chặt cả 10 ngón tay thì có bẻ được không?” (Sđd, tập 11, tr 532). Với cách sử dụng hình tượng như vậy, đồng bào người dân tộc, dù chưa biết chữ cũng hiểu.
Tiền thân của mô hình hợp tác xã là hình thức tổ đổi công, thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp đã góp phần không nhỏ vào sự đoàn kết lực lượng toàn dân. Bác Hồ kêu gọi: “Một ngón tay có đỡ nổi cái ống phóng thanh? Năm ngón tay cũng chưa chắc, phải cả 10 ngón tay mới nổi. Ở nông thôn làm ăn riêng lẻ 1-2 nhà thì không tốt, làm ít kết quả, 5-10 nhà cùng làm thì nhanh hơn, tốt hơn” (Sđd, tập 11, tr 533).
Giữa tháng 5/1959, lên thăm nhân dân Sơn La, Người dùng những hình tượng quen thuộc nói chuyện tâm tình với đồng bào miền núi: “Bây giờ chúng ta, tất cả các dân tộc Kinh, Thái, Mường, Mèo, Mán, Xá, Puộc... đều là anh em ruột thịt một nhà chứ không phải Kinh ăn hiếp Thái, Thái ăn hiếp Xá, Puộc như trước nữa. Cũng ví như một bó que, đây là đồng bào Kinh, Thái, Mèo, Xá, Puộc, Mán, Mường. Từng cái một có thể bẻ gãy. Bây giờ đoàn kết lại thế này có ai bẻ gãy được không? Chẳng những không ai bẻ gãy được, mà ai bẻ chúng ta đánh vào cái đầu nó. Đồng bào phải đoàn kết chặt chẽ như nắm tay này. Cán bộ, bộ đội, nhân dân phải đoàn kết chặt chẽ như nắm tay thế này. Nếu mà Tây, Mỹ muốn xâm phạm nước ta, ta sẽ đánh vào đầu nó” (Sđd, tập 12, tr 211). Hình tượng “nắm tay” là một biểu tượng sinh động, giàu ý nghĩa: nắm tay là sự đoàn kết thống nhất cao; nắm tay tạo ra sức mạnh.
Giáo dục bộ đội phải tu dưỡng toàn diện, Bác nhắc: “Quân nhân phải biết võ, phải biết văn, võ là như tay phải, văn là như tay trái của quân nhân. Biết võ, biết văn, mới là quân nhân hoàn toàn” (Sđd, tập 6, tr 61). Một biểu tượng hết sức cụ thể mà sinh động, gần gũi. “Tay trái” là văn, “tay phải” là võ, thống nhất trong một cơ thể người chiến sĩ cách mạng. Nói về vai trò của Quân đội và Công an gắn bó chặt chẽ với Nhân dân, Đảng, Chính phủ, Bác dạy: “Công an và Quân đội là hai cánh tay của Nhân dân, của Đảng, của Chính phủ, của vô sản chuyên chính. Vì vậy, càng phải đoàn kết chặt chẽ với nhau, giúp đỡ lẫn nhau...” (Sđd, tập 12, tr 153).
“Chúng ta phải làm sao đoàn kết?”. Câu hỏi ấy giáo dục, dìu dắt hơn trăm triệu con Lạc cháu Hồng hôm nay vững vàng bước vào kỷ nguyên vươn mình đầy hứa hẹn. Trong bối cảnh mới càng ý thức cao nhất chân lý Bác dạy: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/ Thành công, thành công, đại thành công!”.