“Bí mật đời trai”
Dìu anh trở lại võng, một tình huống khó xử khác ập đến. Chẳng lẽ để anh nằm không như thế? Cô đành lục ba lô của anh, lấy ra chiếc quần đùi sạch. Lần này, cô không thể quay mặt đi được nữa. Lần đầu tiên trong đời, cô buộc phải chiêm ngưỡng sự trần trụi của một người đàn ông trưởng thành. Một thoáng tự xấu hổ, nhưng rồi cô tự nhủ đó là công việc.
Giáp tết, Lập xuân sớm nên nồm ẩm trái mùa, mưa phùn lây rây như đánh thức con phố sau một đêm ngái ngủ. Con phố này ngày thường mang dáng vẻ của một người già trầm tư. Vỉa hè lát gạch phẳng lỳ thoáng đãng, chỉ thấy những vệt nắng vàng nhạt thong thả trườn qua hiếm khi bị cắt ngang bởi dòng người hối hả. Dường như, nó đã quen với hơi thở chậm rãi của những ngày thường không lễ hội.
Thế rồi Tết ngấp nghé, con phố như được tiếp một luồng sinh khí rực rỡ sắc màu, biến thành thánh địa của mùa xuân. Sự tĩnh mịch cố hữu bỗng nhường chỗ cho một cuộc hội ngộ rực rỡ và ồn ã. Phố biến thành một cái chợ hoa ngày tết.
Toàn bộ vỉa hè, cái không gian vốn dành cho những bước chân thong dong, nay bị lấn chiếm triệt để. Hàng trăm cọc gỗ có bệ xi măng, chăng dây giăng mắc tạo thành những cái chuồng tạm bợ nhốt các loài cây cảnh. Đào phai lấm tấm nụ hồng, quất cảnh trĩu quả vàng ươm, những mai vàng kiêu sa, những chậu lan ngạo nghễ... thách thức không gian chật hẹp.
Chúng chen chúc nhau để cả con phố tạo thành bức tường hoa khổng lồ lô nhô cao thấp như dải lụa được thêu dệt bởi sắc màu, trông có vẻ vật vã nhưng kiêu hãnh phô bày sức sống. Không khí đặc quánh hơi đất ẩm, mùi lá non và hương thơm tinh khiết của hoa lan hoa cúc. Nhưng, lấn át sắc màu và mùi hương là sự náo động của âm thanh: tiếng động cơ xe máy, xe tải chở cây cảnh gầm gừ chậm chạp len qua tiếng người bán kẻ mua mặc cả, tiếng cười nói giòn tan... Sự ồn ào náo nhiệt và xô bồ ấy chính là chất men say cho một mùa xuân đang hiển hiện.
Mặc cho sự rộn ràng ấy, đất trời vẫn mang một vẻ hững hờ. Cơn mưa lây phây trái mùa vương vất như một tấm màn mỏng bao phủ lấy cái chợ hoa tạm bợ. Cái lạnh không cắt da cắt thịt buốt giá hanh hao chuyển sang cái lạnh nồm ẩm thấm sâu vào lớp áo khiến người ta bức bối. Nhưng, những giọt mưa li ti đọng lại trên cánh hoa, trên lá cây và trên những quả quất khiến màu sắc như được phủ lớp men bóng để hoa lá quả trở nên huyền ảo và tươi tắn hơn trong khi vỉa hè vốn sạch sẽ nay loang lổ vết bùn đất do xe cộ chở cây đi lại.
Đối lập hoàn toàn với sự lộng lẫy và sôi động của con phố, một ngõ nhỏ cắt ngang như thể một ranh giới chia cắt hai thế giới.
Ngõ nhỏ, tối và hun hút, nơi những ngôi nhà thấp tè cũ kỹ tựa vào nhau an phận. Hầu như các cánh cửa chính đều đóng im ỉm, còn các cửa sổ khép hờ như những ông già lặng lẽ khép mắt ngủ gà ngủ gật. Không thấy tiếng cười nói, không bước chân vội vã, mặt đường lỗ chỗ vũng nước. Sự im lặng của ngủ quên chăng? Không, là vì sự vắng mặt của những cư dân ngõ nhỏ này. Họ đã đi xa con ngõ từ khi còn tối đất để bòn từng đồng tiền lẻ, từng chút một đổ mồ hôi đổi lấy niềm vui cho ngày tết. Dù mưa phùn ẩm ướt, dù lạnh nồm khó chịu thì sự im lìm của ngõ nhỏ vẫn là tiếng vọng trầm lắng của gánh nặng mưu sinh, là nốt trầm cần thiết để cân bằng với những nốt cao có vẻ hân hoan của chợ hoa.
Cuối ngõ, một căn nhà he hé cửa. Dưới ánh đèn vàng vọt, hai người đàn bà một già một trẻ đang ngồi, trước mặt họ là hai tô bún chay đang nghi ngút khói. Đồ đạc trong nhà đều lạnh lẽo vì vẻ sơ sài của chúng dù ánh đèn vàng và hai tô bún đang bốc khói và sự hiện diện của hai con người cũng chẳng làm căn nhà ấm hơn lên chút nào.
Người già là một phụ nữ đã về hưu trông vẫn còn đầy đặn với khuôn mặt phúc hậu gợi nhớ một thời xuân sắc. Ở góa đã mấy năm nên trong ánh mắt của bà không còn nhiều sự u uất buồn thương mà thay vào đó là những tia hy vọng và hình như đang chờ đợi một sự thay đổi nào đó. Người trẻ là Hằng, một cô gái có khuôn mặt trắng hồng, ánh mắt tinh nghịch lấp lóa sau cặp kính. Cô vừa tốt nghiệp đại học, đang chờ việc làm.
Họ là hàng xóm của nhau. Trong khi tất cả mọi người trong ngõ đang vắng nhà vì bận mưu sinh thì hai người vốn rỗi rãi vì mòn mỏi chờ đợi thì việc họ gắn kết với nhau cũng là nhẽ thường tình. Dẫu không máu mủ ruột rà nhưng cô gái vẫn kính trọng gọi bà là cô Hải còn bà thì coi cô như cháu gái ruột nên xưng tao gọi mày.
Trời nồm nên căn phòng ẩm lạnh, không tiếng động. Thỉnh thoảng, một con ruồi vo ve rất khẽ, cô gái dừng đũa huơ tay xua xua bâng quơ rồi hai người lặng lẽ ngồi ăn nhỏ nhẹ như thể đối với họ thời gian không còn quan trọng, mọi ầm ào huyên náo ngoài đường lớn cũng không ảnh hưởng gì đến nơi này. Ting... ting..., hai tiếng phá tan sự tĩnh lặng tưởng đặc quánh đang choán hết mọi xó xỉnh của phòng hẹp. Bà Hải cúi sát cái điện thoại đặt trước mặt rồi ngẩng lên nhìn sang Hằng: Lão điếc nhắn tin, mày ạ - bà thông báo cho cô gái và tay run run mở máy.
Hằng vẫn điềm nhiên gắp từng sợi bún đưa lên miệng, chỉ hơi nghiêng nghiêng đầu huơ tay đuổi ruồi và làu bàu: Tránh xa 3 ki lô mét. Bà Hải hí húi vào điện thoại một lúc rồi ngẩng lên thông báo lần nữa: "Xong rồi".
- Cô bảo xong cái gì cơ?
- Tao nhắn cho lão điếc xong rồi.
Hằng vâng khẽ. Việc nhắn tin qua lại là việc riêng của các cụ, con chả dám bận tâm. Nhưng, cô biết người được bà Hải gọi là "lão điếc" vẫn thỉnh thoảng vè vè xe máy qua lại nhà này. Đó là một người đàn ông góa vợ vài năm trước, giờ sang tuổi thất thập nhưng vẫn còn tráng kiện, nghe đâu muốn tán tỉnh bà già.
Bà cô mình tuy cũng suýt soát tuổi ấy nhưng vẫn còn đẹp, lưng còn thẳng, dáng thon thả mẩy mang, mặt mũi tươi tắn, không nếp nhăn, nước da trắng mịn màng, xuân sắc ngời ngời. Hai ông bà xem ra cũng xứng đôi vừa lứa. Mà cũng phải, các cụ tìm đến nhau an ủi chia sẻ với nhau, bầu bạn lúc tuổi già cũng là việc tốt. Chả hơn người nào cũng đơn chiếc, suốt ngày quẩn quanh buồn bực, dễ sinh bệnh tật nhiêu khê... rồi khó tính khó nết khổ con khổ cháu.
Ăn xong bát bún, cả hai cùng trầm ngâm. Tiếng ầm ì sôi động ngoài phố giờ mới dội vào trong phòng. Có lẽ, do trời đã tạnh mưa, nhìn ra những giọt nắng đầu tiên đã rắc vào ngõ nhỏ. Ánh nắng quét qua những căn nhà bên kia đường làm chúng sáng lên như khuôn mặt của người đã tỉnh ngủ cho cảm giác vừa quen thuộc vừa thân thiện.
- Ngoài phố đông vui lắm, cô ạ. Chiều qua cháu thấy bán cây cảnh hoa tết nhiều lắm. Đẹp ơi là đẹp. Giá có tiền cháu cũng mua về chơi tết.
- Ừ, tao cũng muốn. Dưng mà đắt lắm. Tiền đâu mà mua. Mày thì thất nghiệp chờ việc làm, còn tao thì luẩn quẩn với mấy đồng lương hưu. Đến ăn sáng cũng bún chan nước cà chua nấu suông chứ đâu dám cá thịt. Thôi, mình khó khăn thì phải dành dụm phòng khi đau ốm. Đấy... lão điếc lại nhắn tin. Để xem lão bảo gì. Khổ! Có tí tuổi mà điếc lòi điếc tõi nên chả gọi bao giờ, toàn nhắn tin. Đến là mệt với lão này.
Bà Hải nói vậy và chăm chú nhìn vào điện thoại. Rồi, bà hốt hoảng: Ối giời ơi! Mày xem đi. Bà đưa cái điện thoại cho Hằng. Cô gái cũng hốt hoảng không kém khi nhìn dòng chữ: "Tôi chết lâm sàng rồi, mình ơi!".
- Sao lại chết lâm sàng? Là sao hả cô?
Bà Hải lắc đầu: Tao chả biết. Như lão điên. Chỉ khéo giả vờ. Chết mà còn nhắn được tin à. Nhẽ lão làm điệu.
Hằng kéo lên phần trên cuộc nhắn thoại và tròn mắt nhìn thấy dòng chữ "tránh xa cách 3 ki lô mét" của bà Hải để trả lời câu nhắn của ông Điếc: "Mình đang làm gì đấy?". Cô gái ngạc nhiên: "Sao cô phũ thế? Sao lại bắt bác ấy tránh xa 3 ki lô mét?". Bà già hồn nhiên: Thì mày bảo tao nhắn thế mà. Hằng ngẩn người rồi cô rũ ra cười, tay vỗ vào vai bà lão mà cười đến vãi cả nước mắt nước mũi: "Con lạy mẹ. Tình già nên sinh sự ngố. Lúc ấy là con đuổi ruồi đấy, chứ con biết bác ấy nhắn gì đâu mà bảo trả lời".
- Sư bố con khỉ. Tự dưng lại nói vớ vẩn làm tao cứ tưởng mày bảo nhắn lão cách xa 3 ki lô mét. Chết thật. Vậy rồi thế nào lão cũng giận dỗi cho mà xem. Lão này nhớ lâu thù dai lắm. Làm thế nào bây giờ?
Khuôn mặt bà Hải bỗng nhợt nhạt như mất sinh khí, đôi mặt cụp xuống, khóe miệng giật giật như sắp khóc. Hằng đọc được ở khuôn mặt ấy nỗi sợ sệt và sự hối hận của người có lỗi. Nhìn khuôn mặt bà Hải đang mếu xệu mà Hằng không nhịn nổi, cô lại cười phá lên. Giời ạ. Cho chết, phen này thì bèo dạt mây trôi. Tiếng cười bỗng ngừng bặt khi Hằng ngẩng lên thấy bà Hải mím miệng rin rít qua kẽ răng: Kệ. Báu gì cái ngữ chẳng biết lo cho mình, cả đời toàn đi lo chuyện thiên hạ. Tao chả cần.
*
Đầu năm 1975.
Trạm xá trung đoàn chỉ mấy lán nhỏ lợp lá trung quân núp dưới bóng rừng già. Những vệt nắng loang lổ trên mặt đất nhấp nhô đá trọc đầu xen những đám lá quăn queo. Giáp Tết Nguyên đán mà rừng già phương Nam không khí vẫn oi nồng vì đang thời kỳ giữa mùa khô.
Một cái lán nhỏ trống huơ trống hoác nằm không xa con suối nhỏ mùa này chỉ còn lắp xắp chút nước róc rách. Một cái võng bạt treo trên cột cạnh một bộ bàn ghế sơ sài ghép bằng những mảnh lồ ô. Trên võng là một chiến sĩ nằm bất động. Trên bàn là cái vỏ lọ penicillin đựng mảnh giấy cuộn tròn nằm lăn lóc và một người đang gục đầu ngủ mê mệt. Nhìn hai bím tóc trái đào và bộ quần áo blouse dã chiến, ta biết ngay đấy là một nữ chiến sĩ quân y còn người bất động trên võng là một thương binh đang điều trị.
Ngoài kia, đạn pháo rít xé không trung, tiếng nổ ùng oàng dội về không dứt. Tiếng máy bay phản lực gầm rú đe dọa trên đầu, xen lẫn tiếng động cơ "è... è..." đặc trưng của chiếc OV10 và tiếng loa chiêu hồi eo éo... Không gian đặc quánh âm thanh chết chóc, khiến đầu óc con người căng ra như dây đàn, chực chờ nổ tung.
Thế nhưng, trong căn lán nhỏ này, mọi thứ lại tĩnh lặng đến lạ lùng. Giữa làn khói bụi xa xăm, ống truyền nước vẫn chậm rãi nhỏ từng giọt, bền bỉ đưa nhựa sống vào cơ thể người chiến sĩ đang hôn mê vì sốt rét ác tính. Anh đã nằm đó ba ngày đêm, tiên lượng khó qua khỏi. Người ta đưa anh ra đây như một sự chấp nhận số phận, nhưng vẫn cắt cử một nữ y tá trẻ vừa chân ướt chân ráo vào chiến trường chăm sóc, hy vọng vào một phép màu mong manh. Ba đêm không chợp mắt, cô y tá gục đầu bên mép bàn, chìm vào cơn mệt mỏi rã rời.
Đột nhiên, cô giật mình choàng dậy. Đôi mắt đỏ hoe vì thiếu ngủ dáo dác nhìn quanh rồi nghiêng tai nghe ngóng. Cô vội chạy đến bên võng. Kìa, một cánh tay khẽ động đậy, mi mắt rung nhẹ rồi mở ra hấp háy. Từ khuôn mặt hốc hác, một giọng nói khào khào thều thào: "Tôi... đang ở đâu?".
Cô y tá vừa khóc vừa reo lên nghẹn ngào: "Giời ơi... Sống rồi! Anh sống lại rồi! May quá!".
Tiếng kêu bột phát vỡ òa niềm hạnh phúc. Cô ghé sát tai anh, nói khẽ: "Anh đang ở bệnh xá trung đoàn. Anh đã hôn mê suốt ba ngày đêm rồi".
Đôi mắt người lính mở to, ngỡ ngàng: "Tôi... còn sống thật sao?". "Phải, anh sống rồi!".
Niềm tin ấy như liều thuốc hồi sinh cực mạnh. Người chiến sĩ quờ tay bám vào mép võng, cố nhổm dậy. Cô y tá vội ngăn lại: Anh còn yếu lắm, đừng cử động mạnh! Anh nằm im được một lát, nhưng rồi lại cố đưa chân ra ngoài, giọng khẩn khoản: "Cho tôi... đi đái".
Cô gái lưỡng lự. Nếu bây giờ đi gọi người giúp, e rằng anh sẽ tự ý đứng dậy rồi ngã đập đầu xuống đá thì nguy. Cực chẳng đã, cô đành đưa vai đỡ lấy thân hình khô xác, nhẹ bẫng của anh. Cô xốc nách người bệnh, dìu từng bước nặng nề ra phía bờ suối. Đoạn đường chỉ hơn chục mét mà cô cảm tưởng dài dằng dặc. Để anh đứng dựa chắc chắn vào một tảng đá, cô quay mặt đi, ra lệnh: "Đái đi!".
Người lính mắt nhắm nghiền, đôi tay run rẩy, lóng ngóng tìm mãi không thấy cửa quần. Cho đến khi mùi thuốc Quinin nồng nặc bốc lên, cô gái giật mình quay lại thì ôi thôi... đũng quần bệnh nhân đã sũng nước. Không còn cách nào khác, cô đành làm cái việc mà cả đời một thiếu nữ chưa bao giờ dám nghĩ tới: cởi quần cho một người đàn ông. Cô vừa làm vừa quay mặt đi, nín thở, đôi tay cũng lóng ngóng chẳng kém gì người bệnh. Xong xuôi, cô thở phào, ném mớ quần áo ướt ra phía bờ suối.
Dìu anh trở lại võng, một tình huống khó xử khác ập đến. Chẳng lẽ để anh nằm không như thế? Cô đành lục ba lô của anh, lấy ra chiếc quần đùi sạch. Lần này, cô không thể quay mặt đi được nữa. Lần đầu tiên trong đời, cô buộc phải chiêm ngưỡng sự trần trụi của một người đàn ông trưởng thành. Một thoáng tự xấu hổ, nhưng rồi cô tự nhủ đó là công việc.
Những ngày sau, khi thấy anh bình phục và đi lại nhanh nhẹn, trong đầu cô lại bảng lảng ý nghĩ: "Lúc ấy 'nó' bấy bớt thế, không biết bây giờ thì sao". Nghĩ đến đó, cô lại đỏ mặt, ngượng ngùng né tránh ánh mắt anh.
Chỉ ít ngày sau, người chiến sĩ trở lại đơn vị chiến đấu. Một buổi chiều cận tết, khi trạm xá đang náo nức chuẩn bị đón xuân, cô gái chợt thấy bóng dáng quen thuộc đi lại bồn chồn trước căn lán cũ. Cô vội nấp sau tảng đá, lén quan sát: Chà, trông anh ta cũng đẹp trai phết! Định ra gặp, nhưng nỗi thẹn thùng chuyện cũ lại giữ chân cô lại.
Người lính trẻ không thể đợi lâu hơn. Anh đặt lên bàn tre một giò lan rừng với những chùm hoa như chuỗi cườm tim tím rồi vội vã rời đi. Cô y tá nhào đến, cầm lấy nhành hoa cùng mẩu giấy ghi dòng chữ nguệch ngoạc: "Tặng người bạn gái đầu tiên đã biết bí mật đời trai của tôi".
*
Cô y tá trẻ năm ấy giờ là bà Hải, còn người chiến sĩ từ cõi chết trở về chính là người đàn ông mà bà vẫn thường gán cho biệt danh "Lão điếc".
Hằng từng nghe bà Hải kể rằng, sau cái tết với nhành lan rừng năm ấy, cuộc tổng tấn công năm 1975 nổ ra khốc liệt. Đơn vị phân tán theo nhiều hướng, hai người lính trẻ bặt tin nhau từ đó. Mãi đến tận năm ngoái, số phận mới cho họ va nhau một lần nữa trong một lần đi khám bệnh. Ông nhận ra ngay người nữ y tá năm xưa, còn bà thì ngỡ ngàng khi biết hai người bấy lâu nay chỉ sống cách nhau chừng dăm cây số.
Gặp lại giữa thời bình, mang theo ký ức vẹn nguyên và cùng chung cảnh ngộ góa bụa, họ nhanh chóng tìm thấy sự đồng cảm, chia sẻ cho nhau những vui buồn của tuổi già. Ông ngỏ lời muốn được cùng bà nương tựa trong những năm tháng mãn chiều xế bóng. Hằng biết chuyện nên ra sức vun vào, nhưng bà Hải vẫn khăng khăng: Già rồi, chỉ là bạn già thôi. Rổ rá cạp lại, con cháu nó cười cho!
Ông chẳng chịu, cứ kỳ kèo "bắt đền", bảo rằng bà phải trả lại công bằng cho ông vì bà là người phụ nữ đầu tiên chạm vào cái "bí mật đời trai" của mình. Bà lại nguýt dài, bảo người đâu mà nhớ lâu thù dai! Hai người cứ ở thế giằng co như vậy, dù trong lòng đã thương nhau đến thắt ruột.
Hằng nhìn ra ngoài cửa sổ. Nắng đã ngập ngõ nhỏ, đất trời hửng lên một màu hồng ấm áp của ngày xuân. Cô nhìn sang bà Hải, thấy bà vẫn còn đang vẻ ấm ức vì chuyện "Lão điếc nhớ lâu thù dai nhưng lại chẳng biết lo cho bản thân".
- Cháu nhìn bác ấy vẫn phong độ, nhanh nhẹn như thanh niên. Sao cô lại bảo bác ấy không biết lo cho mình? - Hằng hỏi vui.
- Mày tính hộ cô xem có ai gàn như thế không? - Bà Hải thở hắt ra - Lương hưu hơn chục triệu đưa hết cho con gái. Đã vậy, nghe đâu vài tháng trước còn xin đi làm bảo vệ công trường để kiếm thêm vài đồng lẻ. Đêm hôm gió máy rét mướt, ở cái tuổi "lá vàng trước gió" này, lỡ lăn ra đấy thì mọi sự dở dang hết...
Bà thở dài, đôi môi mím lại, khuôn mặt hằn lên những nếp nhăn lo âu. Hằng hiểu, chỉ có yêu thương thực sự mới khiến người ta bận lòng đến từng giấc ngủ, miếng ăn của nhau như thế dù không chung một mái nhà. Cô gái tỳ cằm lên vai bà, vòng tay ôm lấy người hàng xóm để sẻ chia. Chợt, Hằng nhận thấy từ mái tóc vẫn còn đen óng ả của bà Hải phảng phất một mùi hương thanh khiết - cái mùi hương dịu dàng như thể vẫn còn vương vấn nét xuân thì từ những năm tháng ở rừng.
Họ ngồi bên nhau hồi lâu trong im lặng. Bà Hải có lẽ đang nghĩ về người bạn già gàn dở của mình, còn Hằng lại mơ màng về những cánh rừng già phương Nam xa xôi. Nơi ấy, giữa máu lửa và bom đạn, đã có những mối tình trong sáng và lặng lẽ nảy mầm. Những mối tình dù có lúc phải giấu kín, nhưng vẫn luôn âm ỉ cháy, vượt qua sự khắc nghiệt của thời gian để sưởi ấm trái tim những người lính trận cho đến tận tuổi xế chiều.
Bỗng, một chiếc xích lô bất chợt khựng lại ngay trước cửa. Cả hai người phụ nữ cùng ngẩng lên, không khỏi ngỡ ngàng khi thấy trên xe là một chậu lan to vật vã. Những cành hoa tím biếc xếp tầng tầng lớp lớp, sum sê như một mâm xôi đầy, rực rỡ dưới nắng.
Bà Hải lật đật đứng dậy, bước ra cửa xua tay bảo ông xích lô: Ông đưa nhầm địa chỉ rồi, nhà tôi không có tiền mua hoa to thế này đâu!
Người lái xe ngẩng lên nhìn biển số nhà, đối chiếu kỹ lưỡng với tờ giấy trong tay rồi khẳng định: Tôi không nhầm đâu. Đây đúng là nhà bà Hải rồi. Chậu lan này giá gần chục triệu bạc, một ông đã mua và dặn tôi nhất định phải chở đến giao tận nhà bà.
Nói xong, ông ta xăng xái nhờ Hằng đỡ một tay, khênh chậu lan vào đặt trịnh trọng ngay giữa phòng khách. Trong lúc chủ nhà còn đang đứng thẫn thờ vì bối rối, người lái xe vội vàng trao cho bà một phong bì nhỏ rồi xin phép đi ngay vì ngoài phố vẫn còn khách đang chờ.
Bà Hải run run mở phong bì. Bên trong là một tấm thiếp hồng, nắn nót dòng chữ quen thuộc: "Tặng người bạn gái đầu tiên đã biết bí mật đời trai của tôi".
Đọc xong dòng chữ, bà Hải đứng ngẩn người ra như mất hồn. Rồi, đột nhiên, bà giậm chân bình bịch xuống sàn nhà, nước mắt trào ra giàn giụa. Bà vừa khóc vừa mếu máo: "Ai khiến! Ai khiến cơ chứ! Vậy ra, mấy tháng trời nắng nôi gió rét, lão đi làm bảo vệ là để dành dụm mua cái thứ này đây hả. Sao trên đời lại có người ‘cám hấp’, gàn dở đến thế cơ chứ!".
Bà quay sang Hằng, giọng lạc đi vì xúc động: Hằng! Đưa cái điện thoại cho cô ngay. Để cô nhắn cho lão điếc, bảo lão phải sang đây ngay lập tức. Sang đây để cô cho lão một trận! Ai bắt lão phải khổ sở, hành hạ thân xác già nua ấy chỉ vì mấy bông hoa này chứ... Hằng vừa buồn cười vừa thương, vội đưa điện thoại cho bà.
Nhìn người phụ nữ luống tuổi vừa nức nở vừa lóng ngóng bấm từng phím chữ nhắn tin, cô gái cũng thấy sống mũi cay cay, nước mắt ập òa nơi khóe mắt. Cô hiểu, đó không phải là tiếng mắng chửi, mà là tiếng lòng của một tình yêu muộn màng nhưng mãnh liệt, là sự xót xa của hai người lính từng đi qua cái chết nay đang chắt chiu từng chút yêu thương cho nhau.
Giữa căn nhà nhỏ, chậu lan vươn mình kiêu hãnh, sắc tím nồng nàn như đang reo vui, gọi cả nắng xuân rạng rỡ ùa về.