Đi qua dòng sông
Giọng chị mơ hồ và hoảng hốt. Tôi ngước nhìn chị. Dưới ánh trăng, chị đẹp một cách lộng lẫy, như một bức ảnh nàng tiên cá tôi từng được thấy trên tờ họa báo. Làn tóc đen xõa xuống, đôi mắt to tròn lấp lánh. "Chị khổ lắm Hoàng ơi". Tôi khẽ đặt bàn tay lên vai chị: "Ta về thôi chị". Đêm ấy, bu tôi không về vì dì tôi trở bệnh.
Trước khi tôi ra đời hai tháng, thầy tôi bảo bu tôi: "Bệnh xá Đông tài lắm, bu mày đi khám xem". Khám cho bu tôi là ông đốc tờ người Pháp mắt xanh, mũi lõ, "mùi nó gây gây" như lời bu tôi kể lại. Sau một hồi vần vò, bóp bóp, nắn nắn, ông ta phán một câu xanh rờn: "Thai nhi không đầu".
Sau lời "thánh phán" của ông ta là những ngày u ám của nhà tôi. Bà tôi ngày đêm cầu trời lạy thánh. Bố tôi phẫn chí, uống rượu triền miên, làu nhàu với bà tôi: "Thần thánh cái gì. Nhà này ăn ở phúc đức, ông giời có mắt như mù". Dân làng xì xào bàn tán: "Chắc động mồ, động mả". Có kẻ còn độc miệng: "Hay là bà ấy bị lão đội Cai Phi hãm hiếp?".
Bu tôi đã ba lần ra sông Diêm tự tử nhưng lần nào cũng vậy, bà ngồi cả đêm ở bờ sông, khóc hết nước mắt rồi về. Người đàn bà đã qua những tháng ngày bi thương của gia đình khi bị quy là địa chủ trong Cải cách ruộng đất, bà không sợ chết. Bu tôi thương thầy tôi với oan khuất và các anh chị tôi còn nhỏ dại.
Rồi cái buổi tôi ra đời cũng đến. Bằng sức lực của người nông dân đã qua tám lần vượt cạn, sau một hồi vật vã, bà đã rặn ra một cái đầu đen nhánh đầy tóc. Nén cơn đau, bà nhổm dậy nhìn chằm chằm vào cái đầu tôi vừa mới thò ra đến phần cổ, hét lên: "Có đầu, nó có đầu" rồi vật xuống rặn tiếp cái phần sau còn lại.
Mỗi lần nghe kể lại, tôi không biết nếu cái đầu to ngoại cỡ và ngu ngốc của tôi ngày ấy không thò ra thì chắc bu tôi sẽ cắn lưỡi chết ngay lúc đó. Thím Đậm đang ở ngoài vườn chạy vào múc gáo nước bể, rửa qua loa cái liềm vừa cắt cỏ, cắt xoẹt cái nhau thai. Vừa lúc ấy, lão Cai Phi đi qua lè nhè: "Cho tao về nhắm rượu". "Để chôn vào giọt gianh cho nó nhớ quê cha, đất tổ chứ chôn vào cái dạ dày khắm của mày cho nó thối cháu tao ra à". Nói rồi thím bế thốc tôi ra cầu ao vừa xua xua đám bèo tấm cùng lũ đỉa đói đang lao vào như tên bắn vì ngửi thấy mùi máu kỳ cọ cho tôi: "Chim ra chim, rồi tốn gái lắm đây!".
Tôi lớn lên cùng với cái đầu ngu ngốc của mình nơi làng Giắng sông Diêm, con sông bu tôi đã ba lần định trẫm mình vì nỗi lo tôi không có đầu. Làng tôi tên tục thì là làng Giắng còn tên chữ là Thương Liệt. Cũng vì cái tên chữ này mà tôi mất mối tình đầu thơ mộng. Ấy là khi nàng hỏi, tôi đã thành thật trả lời rằng tôi người làng Thượng Liệt xóm Hạ Cường, nàng chê tôi là thô lỗ, bậy bạ nên bỏ đi. Cuộc tình non trẻ tan vỡ, nhiều lần nghĩ lại, tôi cũng tiếc nhưng đi nghĩ lại thì lại thấy có lẽ cũng có cái may. Sau nhiều lần đổ vỡ, tôi nghiệm ra rằng hình như lấy người mình không yêu bền vững hơn lấy một thần tượng. Cứ nghĩ đến cảnh "Một đêm đi đái sáu lần - Chỉ kéo khóa quần đã hết mất đêm" hay hình ảnh nàng thơ ăn bún đậu, mắm tôm, tiết canh, lòng lợn mồm mép nhoe nhoét mà não hết cả người, làm sao mà đắm đuối.
Thành hoàng làng tôi là bà Trần Thị Quý Minh, con cả của Đức vua Trần Duệ Tông. Do cùng với hai người em gái chống lại việc kết hôn với người trong dòng tộc nên bị đày về nơi cửa biển đầy năn lác này mở mang, khai khẩn đất đai. Bằng nỗ lực của mình, các bà đã dựng lên một chuỗi ba làng Thượng Liệt, Trung Liệt, Hạ Liệt. Công chúa Trần Thị Quý Minh còn cùng với dân làng làm nên điệu múa "Giáo cờ, giáo quạt" sau này trở thành Di sản phi vật thể quốc gia và nhờ nó, các nghệ nhân làng tôi đã được đạo diễn Việt kiều Ea Sola đưa đi biểu diễn khắp trời Âu - Mỹ.
Do húy kỵ, người làng tôi xưa tránh các từ Quý - Minh nên thường gọi chệch "quý" bằng "quế" kiểu "Bác đến thăm em, quế hóa quá" hay "minh = miêng", "thanh minh" = "thanh miêng"...
Tuổi thơ tôi lớn lên bằng củ khoai hà, hạt thóc lép, cọng rau lang. Làng nghèo thế nhưng vẫn xây được khu di tích quốc gia Đình - Chùa - Lăng rất bề thế với Đình Ngoài, Đình Trung và Đình Cấm. Kháng chiến chín năm, Pháp phá Đình Cấm lấy vật liệu mang về xây bốt Chùa Khô. Thầy tôi khi đó làm xã đội trưởng, cùng với dân làng đánh trả. Lão Cai Phi chỉ điểm, không bắt được thầy tôi, chúng lôi ông ngoại tôi đánh thừa sống thiếu chết và bắt đi của nhà tôi con trâu đực, đốt căn nhà gỗ lim 5 gian ông nội tôi xây. Nghe nói có lần thầy tôi mò vào tận bốt Chùa Khô đặt mìn nhưng do dây cháy chậm dính nước mưa nên quả mìn không nổ. Có lẽ, tôi đã hoài thai trong ý tưởng của ông từ cái đêm quả mìn không nổ ấy?
Sau này, thầy tôi bảo: "May mà Pháp nó đốt căn nhà chứ không thì tao chả sống được đến giờ". Đấy là thời Cải cách ruộng đất. Đêm đêm, các anh chị tôi cùng với lũ trẻ trong làng tay loa, tay mõ đi "đả đảo bọn địa chủ gian ác" mà không biết rằng "địa chủ gian ác" là ông bố nhân từ, hết mực thương yêu vợ con và quý mến hàng xóm láng giềng. Câu chuyện ấu trĩ một thời, kể lại mà rơi nước mắt.
Sau này, có lần lão Cai Phi say rượu, chân xiêu vẹo, mồm méo xệch túm lấy tay tôi, giọng xoe xóe: "Thằng không đầu, mẹ cha mày, rồi tao sẽ cắt cái đầu của thằng bố mày gắn cho mày thành rắn hai đầu. Đến thời của bố mày rồi con ơi!". Lão hét lên, tôi không sợ lời lão đe dọa mà sợ những giọt nước bọt từ cái mồm thối hoăng hoắc của lão bắn lung tung vào người, vào mặt.
Cai Phi là thằng du thủ du thực, ngày xưa đi lính cho Pháp nhờ bản tính lưu manh và liều lĩnh, nghe đâu lão từng làm cai, làm đội gì đấy rồi ăn cắp nên bị đuổi về vạ vật nơi đầu làng xó chợ. Mỗi khi nhà tôi động bát đũa là lão lại xun xoe đến vét mâm, vét nồi cơm thừa, canh cặn. Ngày Cải cách, lão cũng là người "đấu" thầy tôi hăng nhất.
Nhờ thành phần bần cố, lão được chia một phần gia sản nhà tôi. Thế nhưng chỉ sau mấy tháng, đám hoành phi câu đối, sập gụ tủ chè theo nhau chui tọt vào nậm rượu của lão. Miếng đất cắt ra từ khu vườn nhà tôi cũng bị bán sau chưa đầy một năm, lão về góc chợ dựng cái lều lợp bằng lá chuối. Trong lều, lão để ba cái vò. Cái đậy gạch là vò đựng thóc, cái đậy nón mê là vò đựng rắn và cái phủ bằng vỉ cói là đựng lũ chão chàng, ngóe sộp. Đêm đêm, những con cóc cụ chờ đến lượt lột da cho vào bếp nướng cùng với lão ho lên sù sụ như một sự đồng hành.
Đêm phá đình Trung thật rùng rợn. Cả làng cứ âm âm, u u. Những ngọn đèn dầu vặn bé như hạt đỗ cháy leo lét. Đom đóm bay ra khắp làng. Mới tối, gà mái đã gáy te te. Thầy tôi uống rượu rất say, nằm rên ư ử, nước mắt nước mũi dầm dề. Thím Đậm thì thào với bu tôi: "Sáng mai nó phá đình bá ạ". Bu tôi cụp mặt xuống, giọng nghèn nghẹn: "Làng này rồi đẻ ra toàn quái thai cho mà xem". Chỉ lão Cai Phi với đám thanh niên choai choai là hí hửng. Lão được ông Đởm chủ tịch xã cho hai thúng thóc và ba lít rượu để ngày mai, lão là người đập nhát búa đầu tiên.
Sáng hôm sau, khi lão Cai Phi đập nhát búa vào đầu con nghê đá trên nóc đình, một vệt mây đỏ như máu chảy loang xuống cái giếng đình, nơi có nguồn nước bốn mùa xanh ngắt. Tương truyền rằng vào rằm tháng bảy, thả quả bưởi xuống đây thì rằm trung thu, nó sẽ trôi ra biển Đông. Khi lũ trẻ chúng tôi kể có vệt mây máu từ đầu con nghê đá chảy xuống giếng thì nhiều người không tin vì chỉ có lũ trẻ con chúng tôi mới nhìn thấy còn người lớn thì không. Sau lần ấy, thầy tôi bỏ làng thoát ly trên Ty Thương nghiệp. Lão Cai Phi cũng chết. Lão chết trong cái lều lá chuối mấy ngày mới có người phát hiện ra. Lão chết vì bỏ nhầm rắn độc vào vò đựng cóc, con rắn đã cắn chết lão khi lão thò tay vào vò bắt cóc lột da…
Ngày Mỹ "leo thang" ra miền Bắc, làng tôi bỗng nhộn nhịp hẳn lên vì có đến mấy cơ quan về sơ tán. Tối tối, họp hành, hò hát tưng bừng. Nhà tôi lúc nào cũng có ba, bốn chị ở trọ, chị nào cũng tươi tắn, xinh đẹp và hay cười. Tôi nhớ người lớn tuổi nhất và cũng xinh đẹp nhất là chị Ban. Nghe nói, chị lấy chồng được mấy ngày thì anh lên đường nhập ngũ được bốn tháng đã hi sinh. Đêm, chị thường ngủ với mẹ con tôi. Những đêm đông lạnh giá, tôi rất thích được nằm giữa chị và bu tôi vì sự ấm áp, ngọt ngào.
Một hôm, bu tôi đi chăm dì tôi ốm, tôi nằm nghe chị kể chuyện ma, sợ quá cứ ôm chặt lấy chị. Rồi chị kể với tôi về tuổi thơ nơi cũng có cái giếng làng bốn mùa trong xanh, thả quả bưởi là trôi ra biển. Tôi thiếp đi trong lời ru phập phồng dầm dề nước mắt của chị. Tôi mơ thấy mình bơi ra giữa dòng Diêm hộ, một sợi dây cứ thít lấy người tôi và dìm tôi xuống.
Mở mắt ra, tôi thấy mình ngột ngạt trong vòng tay săn chắc và hai bầu vú căng cứng áp chặt vào mặt. Hai bàn chân chị nóng rực miết dọc chân tôi. Vừa sợ, vừa thích cả người cứng đơ rồi đột nhiên rùng mình, tôi thấy người nhẹ bẫng trong vòng tay xiết chặt và hơi thở hừng hực đầy gấp gáp của chị.
Tôi hoảng hốt trườn ra khỏi giường, lao ra cửa và chạy thẳng một mạch xuống bến đò Vô Hối. Nơi trước khi sinh ra tôi, bu tôi đã ba lần định tự tử, nơi tôi vừa sặc sụa trong giấc mơ. Chị Ban cũng chạy theo tôi. Ra đến bờ sông, chị ngồi xuống cạnh tôi. "Chị xin lỗi em nhé!".
Giọng chị mơ hồ và hoảng hốt. Tôi ngước nhìn chị. Dưới ánh trăng, chị đẹp một cách lộng lẫy, như một bức ảnh nàng tiên cá tôi từng được thấy trên tờ họa báo. Làn tóc đen xõa xuống, đôi mắt to tròn lấp lánh. "Chị khổ lắm Hoàng ơi". Tôi khẽ đặt bàn tay lên vai chị: "Ta về thôi chị". Đêm ấy, bu tôi không về vì dì tôi trở bệnh.
Mấy hôm sau, tôi ra Vàng Danh đào mỏ. Chị đưa tôi ra bến đò, cho tôi hai đồng rồi bảo: "Em là thằng đàn ông tử tế". Tôi mua một quả bưởi đưa cho chị, bảo: "Chị đem về thả xuống giếng làng cho em". Đò rời bến, người lái đò nhắc: "Ngồi yên không chết đuối". Tôi rùng mình nghĩ đến bu tôi. Nước sông Diêm đen thẫm như ẩn chứa những linh hồn oan khuất. Đi qua dòng sông, tôi bước lên bờ đê lộng gió. Lúc này là rằm tháng bảy. Năm đó, tôi mười sáu tuổi!