Mùa hoa trắng không trở lại
Em đến từ khi nào. Cánh tay em quấn chặt, vai tôi nóng rực, hơi thở dồn dập, đôi má ấm mềm như tan chảy, thấm dần vào từng mạch máu. Bờ môi căng mọng khẽ chạm, run run hòa vào nhịp tim thổn thức. Nụ hôn nồng nàn đưa tôi lạc giữa cánh đồng tam giác mạch phảng phất hương hoa trong gió núi.
1.
Trở về từ Tây Bắc, tôi vẫn không dứt nổi thèm thuồng những thức quà từ núi. Tôi bảo với Trang - đứa em út trong nhà tìm cách kết nối với mấy trang bán hàng uy tín để đặt về. Nó nhanh nhẹn xoay xở, bán hàng online kiếm thêm đồng ra đồng vào. Chủ yếu là tôi có chỗ đặt hàng, chứ thời gian đâu lướt “thả tim” hay theo dõi như người ta.
Kết thúc chuyến đi vùng cao, tôi lại lao vào những dự án mới. Hai năm vùi đầu ở phương Nam, ngắm mai vàng, quãng thời gian đó cũng đủ tôi gom góp thêm kinh nghiệm và tạo dựng cho mình những mối quan hệ làm ăn. Dự án hoàn công, lần này, tôi quyết dành quỹ thời gian cho riêng mình, trước hết là cùng anh em trong nhóm ra mắt tác phẩm. Nói gì thì nói, ngoài chuyện mưu sinh, cũng phải chăm chút cho những đứa con tinh thần. Thầy giáo tôi vẫn dạy: “Muốn đứng vững trong nghề, chí ít cũng phải được công chúng ghi nhận”. Sắp đến kỳ nộp tác phẩm dự triển lãm, anh em trong hội giục liên hồi, coi đó như việc hệ trọng. Thực ra, vốn liếng của tôi cũng đã tích cóp được từ chuyến đi ấy. Giờ chỉ chau chuốt lại, vào khung cho chỉn chu là lên đường.
Cả tuần nay, tôi gần như đóng cửa, tắt điện thoại, vùi mình bên giá vẽ. Thi thoảng, cái Trang lại đoảng sang quẳng mấy thứ đồ tôi mua. Chỉ khi có hàng từ miền núi về, nó mới ghé qua thăm tôi. Ôi, sơn tra chan chát, hạt dẻ béo bùi, ngầy ngậy, hòa với hương thơm nhẹ của nấm rừng… tất cả như dậy lên giữa gian phòng, khiến tôi ngỡ mình đang trở lại nơi đất trời sương giăng gió lộng ấy.
2.
Một tuần trôi qua giữa không gian triển lãm tranh của tác giả trẻ về chủ đề “Sắc núi”. Liên tiếp những câu hỏi của các phóng viên về ý tưởng, hành trình sáng tạo, thông điệp gửi gắm tác phẩm… làm tôi chẳng dứt ra được.
Khách thưởng tranh thưa dần, chỉ còn tôi lặng lẽ đứng trước những bức tranh, khung vải như mở ra một khoảng trời riêng. Đến ngày cuối, khách xem đã vãn, các đoàn nghệ sĩ bắt đầu rục rịch gỡ tranh. Cuối dãy, chỉ còn sót lại một bức duy nhất chưa hạ xuống là bức tranh của tôi, lặng lẽ đứng đó như chờ một ánh nhìn.
Từ nãy, tôi để ý có một gã quần áo xộc xệch, chân đi đôi dép tổ ong sờn gót, tóc tai bờm xờm. Gã đứng lặng trước bức tranh của tôi thật lâu. Trong cái nhìn, tôi nhận ra nét quen thuộc của người vùng cao từ đôi mắt gã - cái nhìn chậm, sâu thẳm như đang dò từng lớp màu trên toan để tìm lại bóng dáng bản mường.
Giữa phố xá đông đúc hoa lệ, ở đâu xuất hiện một gã dáng dấp thô mộc đứng chôn chân trước bức tranh, khiến tôi không khỏi ngạc nhiên. Nhưng nghĩ lại, khi đường nét, màu sắc kia đã chưng cất được hồn vía vùng đất nơi người ta sinh ra, thì việc lặng người, lắng lại cũng là lẽ thường. Thấy tôi, gã vẫn mặc kệ. Sau cùng, gã cũng mở miệng nói một hồi toàn những lý do chẳng liên quan gì đến tranh pháo, bỗng nhiên chốt một câu cộc lốc:
- Có bán tranh không, bao nhiêu tiền?
Cái kiểu mua tranh của gã này đúng là có một không hai. Thấy tôi có vẻ bực mình, gã cũng chờn chợn:
- Bức này nhé?
Đến lúc này thì cái máu kẻ sĩ trong tôi như sủi bọt. Bị tôi trả lời thẳng thừng, gã ném cái nhìn gườm gườm về phía tôi, rồi dúi vào tay tôi một mẩu giấy có số điện thoại, vừa đi gã vừa nói: “Bán thì gọi, mai đến”. Nếu ở gallery tranh thì hẳn tôi đã tống khứ gã ngay tắp lự.
Sau cuộc triển lãm năm ấy, tác phẩm của tôi trở nên nổi tiếng với bút pháp phóng khoáng, chính nó đã đưa tên tuổi tôi thăng hoa trong giới hội họa. Tôi có nhiều đối tác trong công việc cũng như hoạt động nghệ thuật. Điện thoại reo cả ngày, hòm thư ngập đơn đặt hàng, các dự án mới, các buổi gặp gỡ, những hợp đồng triển lãm béo bở. Tôi mệt nhoài mà vẫn vui. Trong giới chúng tôi, thế là hạnh phúc.
Một sáng đầu đông, gió bấc lùa qua khung kính lạnh buốt, tôi bật máy tính theo thói quen. Facebook hiện lên những dòng tin, lời chúc, hình ảnh rời rạc. Tôi lướt vô thức, cho đến khi dừng lại trước một tấm ảnh quen. Hùng - bạn thân cùng học mỹ thuật, vừa bình luận dưới bức hình chụp vợ anh trong viện, chắc là dịp sinh nhật. Trên bàn đặt bó hoa tươi, cô ấy vẫn cười rạng rỡ giữa gam trắng nhợt của phòng bệnh. Nhưng… điều khiến tôi chết lặng không phải nụ cười ấy, mà ở góc trái bức hình, nơi chiếc giường bên cạnh: một gương mặt gầy gò, xanh xao, thoáng hiện. Em. Trời ơi, đúng là em!
Không kịp nghĩ ngợi, tôi lao thẳng đến viện K, tim đập dồn như kẻ chạy ngược dốc núi. Câu nói ngập ngừng của bác sĩ như dao cắt: “Trường hợp này… đã trả về rồi”. Tôi chết lặng. Trong khoảnh khắc, mọi âm thanh ngoài kia như rút hết, chỉ còn tiếng thở gấp gáp của chính mình. Ký ức phủ bụi bấy lâu bỗng bật tung, ào ạt tràn về: Em - cô gái giữa cánh đồng tam giác mạch trắng ngát, người tôi từng hứa sẽ quay lại, trao em bức tranh còn dang dở. Và... gã thợ hồ hỏi mua tranh năm nào kia là…?
3.
Thường thì cánh sinh viên mỹ thuật chúng tôi sau khi ra trường cứ phải lông bông một thời gian. Ngày đó, tôi cộng tác với một trung tâm mỹ thuật, công việc nhiều, phần lớn anh em phải chia đi các ngả theo những hợp đồng. Như mọi lần, dịp này tôi nhận lệnh một mình lên trang trí cho một trường điểm ở vùng cao Tây Bắc. Thoạt nghe, việc trang trí cả một điểm trường trung tâm có vẻ khá nặng nhọc, nhưng thực tế lại đơn giản với người có nghề như chúng tôi.
Lần đầu tôi đặt chân lên đó vào một sáng đầu thu se lạnh, sương núi còn quấn quýt như dải lụa bạc. Chiếc xe khách ngược đèo lắc lư xuyên qua những rừng sa mộc cao vút, khói sương quấn lấy từng cành thông như trong tranh thủy mặc. Thi thoảng một vạt ruộng bậc thang hiện ra giữa mây, vàng óng ánh như thảm gấm, lấp lóa trong nắng sớm. Trẻ con vùng này lạ lắm, gặp người lạ, chúng tròn xoe mắt, rồi lại ù té chạy, hò hét đuổi gà trên sườn dốc khiến tôi bật cười vì cái hồn nhiên, chân chất đến kỳ lạ.
Tới trung tâm tỉnh, tôi mới biết để lên được cao nguyên Sình Hồ, chỉ có duy nhất một chuyến xe vào buổi sáng hôm sau. Tôi đành ngủ trọ lại một đêm ở bến xe. Sáng hôm sau, chiếc xe ì ạch ngược đèo. Sương mù đặc quánh, cảm giác như bốc được từng vốc. Xe càng lên cao, sương mù càng nhiều, đường phía trước mù mịt được xé dọc bởi các tia màu vàng của đèn phá sương, mọi người im lặng, chỉ có chiếc cần gạt nước miệt mài theo nhịp điệu. Phía bên tay phải tôi lờ mờ màu nâu đục tà luy dương, còn tà luy âm thì trắng toát như một biển mây vô cực.
Ngôi trường nơi tôi nhận việc trang trí nằm giữa một thung lũng, lưng tựa núi, mặt hướng về suối Hoàng Hồ. Vùng này khá nhiều những mái nhà đá đen, thưng gỗ thấp thoáng sau những rặng táo mèo cao vút. Hè chưa hết nên giáo viên vẫn còn ở quê, chỉ có chị Sánh hiệu trưởng cũng là người bản địa ở lại. Chị đưa tôi một chén trà nóng, nói nhỏ: “Họa sĩ xuống bản nhớ giữ chân, kẻo mê con gái Dao, gái Mông thì khổ”. Tôi bật cười: “Biết đâu ấy…!”.
Sáng sớm, chị Sánh mang một túi nấm hương tươi từ rừng về đưa tôi, chị cười bảo: “Để họa sĩ ăn còn lấy sức vẽ tranh cho đẹp”. Buổi trưa, Tẩn A Soang - cậu bảo vệ trẻ người Dao dẫn tôi ra suối tắm. Bên bờ, những phiến đá ngũ sắc nằm im dưới nắng. Dưới làn nước trong veo, từng đàn cá suối tung tăng bơi lội.
Tôi nhanh chóng bắt tay vào việc. Để đẩy nhanh tiến độ, tôi tranh thủ vẽ cả tối, rồi ngủ lại trường cùng Soang. Có đêm tôi vẽ say sưa đến 2 giờ sáng, cứ tưởng Soang đã được một giấc no mắt, hóa ra anh vẫn chăm chú từng nét vẽ, cách pha màu trên pallet. Xong việc hai anh em thu dọn đồ và xì xụp mì tôm. Công trình cũng đến ngày hoàn thành thì một đợt mưa lũ kéo dài làm đường sạt lở nghiêm trọng.
Con “Min khơ” khựng ngay giữa sân trường, bành bành nhả khói. Soang tủm tỉm: “Đi chơi họa sĩ ơi! Phải mấy hôm nữa mới thông tuyến”.
Tôi theo Soang đến nhà người quen chơi. Điều tôi ấn tượng là trên vách gỗ, treo ngay ngắn thành hàng dàn những bức tranh vẽ bằng chì khá tỉ mỉ theo lối thâm diễn. Đang định hỏi Soang về những tác phẩm tự họa thì dưới bếp có tiếng vọng lên:
- Anh Tẩn A Soang đến chơi à, xuống giúp em một tay nào.
Theo Soang đi xuống, trước mắt tôi là một căn phòng đầy hoa. Những bình hoa bằng đá pha lê trong suốt, hoa đủ sắc màu, được làm từ nhiều chất liệu đá, đất nặn, sáp thơm… Thú vị nhất là những dáng cây được tạo bằng dây thép ly bọc vải. Phía cuối căn phòng chật hẹp, giữa đống phác thảo ngổn ngang và mùi sáp thơm thoang thoảng là cô gái Dao nhỏ nhắn đang cặm cụi bên cây chì. Những dáng hoa đủ kiểu được vẽ lên tấm bìa đúp lếch, nét vẽ mềm mại nhưng đầy tinh tế. Tẩn A Soang ngồi gần đó, chăm chú dùng kìm cắt từng đoạn dây thép theo kích thước đã ghi sẵn.
Cô gái có vành khăn rộng trong trang phục truyền thống ngước lên nhìn tôi, đôi mắt to tròn ánh lên sự ngạc nhiên, rồi lại cúi xuống, im lặng. Gương mặt em thanh tú, làn da mịn màng và đôi môi mím hờ. Tay em thoăn thoắt nặn cánh hoa, uốn cành, phối màu. Bên cạnh là khay pha màu loang lổ và những cây cọ đủ cỡ chen nhau nằm đó. Tôi khựng lại trong giây lát trước vẻ đẹp dung dị ấy, rồi khẽ bước đến, kéo một chiếc ghế ngồi xuống bên cạnh. Em hơi nghiêng đầu nhìn tôi, mỉm cười nhẹ, nụ cười như gió thoảng:
- Nào, để anh giúp một tay.
Tôi kéo khay màu lại gần mình. Em khẽ “dạ”, ánh mắt có chút ngập ngừng, e dè. Tôi cùng em làm từng cánh hoa, pha từng lớp màu. Không khí giữa hai người dần gần lại. Dưới tay tôi, đào, huệ, thủy tiên, thược dược, tỉ muội… lần lượt nở ra trên mặt vải. Xong mỗi bức, em lại cười, hiền như hoa núi. Từ lúc ấy, em hay ở cạnh tôi, kể chuyện về tranh, về màu... Nghe mãi không chán.
Tẩn A Soang cười:
- Đây là Sử Mẩy, con gái út nhà dì mình, sắp ra cô giáo rồi.
Soang dẫn giải thêm, trong tiếng Dao - “Mẩy” có nghĩa là “Gái”. Người Dao mình đặt tên theo thứ tự sinh trong gia đình: “Tả Mẩy là gái cả, Lở Mẩy là gái thứ hai; Sử Mẩy là thứ tư… cứ thế mà gọi thôi”. Đêm ấy, chỉ vì vương vấn cái tên Sử Mẩy mà tôi trằn trọc chẳng sao chợp mắt. Mỗi miền đất đều có một cách đặt tên riêng, tưởng chừng mộc mạc mà lại ẩn chứa cả nếp sống, nếp nghĩ. Ở chốn núi rừng này, con người không cầu kỳ chữ nghĩa, chỉ cần một âm thanh quen thuộc cũng đủ để kết nối máu mủ, để neo giữ ký ức và truyền tiếp qua bao thế hệ.
4.
Đường đã thông. Trung tâm liên tiếp gọi giục tôi về cho kịp hợp đồng mới. Thế nhưng, tôi vẫn cố nấn ná, kiếm cớ để ở lại thêm vài ngày, chỉ để được ngắm cao nguyên khi sớm mai còn mờ hơi sương; được nghe tiếng suối chảy thì thầm qua khe đá, được đi bên em trên những bậc ruộng mờ trong sương.
Sau nhà em, bạt ngàn ruộng bậc thang nối nhau tới tận chân trời, lớp lớp chân ruộng xếp thành từng nếp uốn lượn, như những con sóng vàng lặng lẽ nối tiếp nhau đổ xuống thung sâu. Ở đây có con suối Hoàng Hồ chảy qua bản. Người già kể rằng suối ấy kỳ lạ lắm: mùa thu, ánh nước trong ngần như hổ phách; mùa xuân, xanh biếc tựa ngọc bích. Thế nhưng, mỗi khi gió mùa trở mình, dòng nước trong veo ấy lại bất chợt ửng hồng như sắc máu, như mang theo nỗi niềm u tịch của núi rừng thuở xưa.
Em dẫn chuyện người xưa rằng…
Thuở hồng hoang, khi trời đất còn hỗn độn, sông chưa định dòng, núi chưa an vị, vùng đất này bị một con hỏa long hung dữ chiếm giữ. Hằng năm, bản mường phải tuyển chọn một thiếu nữ nhan sắc tuyệt trần dâng làm lễ hiến sinh mong đổi lấy mưa thuận gió hòa, lúa ngô được mùa.
Năm ấy, đến lượt nhà Phàn Páo Sao tiến nạp người con gái thứ hai, dung nhan tựa đóa hoa rừng vừa hé nở. Đúng giờ chính ngọ, mây đen kéo đến, gió nổi cuồn cuộn, đất chuyển rung, suối gầm vang như oán thán. Hỏa long hiện thân, mình dài uốn khúc trấn giữ thung sâu, mắt đỏ như than hồng, miệng phun lửa dữ. Giữa lúc thiên địa chao đảo, bỗng nơi cuối chân trời, một chàng trai khôi ngô tuấn tú hiện ra, phong thái khác thường, như mang theo mệnh số của trời đất.
“Chàng cưỡi bạch mã,
ngực trần phơi gió núi,
vai khoác cung bạc,
tay siết đao thần.
chân thúc vó tung bay,
bụi đất dựng thành mây,
tiếng hí vang tựa sấm.
ánh đao lóe sáng,
xé toạc tầng mây,
rạch vào bóng đêm tia chớp rực trời…”.
Chàng lao vào cứu Páo Sao, đánh Rồng Lửa. Hai bên giao chiến bảy ngày, bảy đêm.
“Núi nghiêng mình vọng tiếng,
suối đỏ ngầu trào sóng,
rừng đại ngàn run rẩy,
chim thú rời hang...”.
Cuối cùng, chàng vung đao, chém trúng yết hầu quái vật. Máu Rồng phun tràn đỏ cả dòng suối. Từ đó, người bản gọi thành suối Hoàng Hồ, con suối nhuộm máu rồng, đỏ như huyết ngọc thạch trời ban. Còn chàng trai cưỡi ngựa trắng, bay vút về trời, để lại lời hẹn:
“Nếu còn nhớ, hãy gieo hoa trắng
Nếu còn thương, hãy đợi ta về…”.
Từ đời này qua đời khác, dân bản vẫn gieo hoa tam giác mạch trắng, như một lời ghi ơn cứu mường, như một khát vọng mong ngày chàng lại trở về, xuống chơi cùng bản nhỏ giữa mùa hoa nở trắng trời.
Nghe em kể, tôi như kẻ lạc giữa miền cổ tích. Trăng chênh chếch trên đỉnh núi mờ xa, em thủ thỉ: “Hoa này dịu và mỏng mảnh như cánh tay con gái mới lớn. Rằng hoa ấy sinh ra từ bìa ngô, bìa lúa, nơi đất cằn đá sỏi. Loài hoa thân cỏ, có hình tam giác, mềm nhưng dẻo dai, rễ bám chặt vào đất đá như chính con người nơi này, người vùng cao gọi nó bằng cái tên mộc mạc - tam giác mạch”.
Bên tôi, em vô tư hồn nhiên như áng mây giữa trời. Mắt em mơ màng thắm cả sắc trời. Tay em đón từng giọt sương cuối thu trong vắt, long lanh tựa pha lê. Em chao nghiêng giữa biển hoa trắng đang lay nhẹ trong gió. Tôi lặng người trước vẻ đẹp thanh khiết, mong manh ấy.
Tôi say sưa chấm phá các sắc độ sơn dầu trên nền toan. Bức tranh chiếm trọn tâm trí suốt những ngày qua, giờ là lúc thăng hoa nhất. Cánh đồng tam giác mạch bất tận dần hiện ra bằng gam màu lạnh xanh nhạt, tím sương và trắng hồng. Chủ thể của tranh là em - sơn nữ đầu vấn khăn rộng viền thêu chỉ màu, cổ đeo kiềng bạc, cúc bạc lấp lóa ánh sáng, nổi bật trên nền áo chàm thẫm như in bóng núi. Em đứng nghiêng mình trong gió, phía sau trải ra cánh đồng tam giác mạch bất tận.
Em đến từ khi nào. Cánh tay em quấn chặt, vai tôi nóng rực, hơi thở dồn dập, đôi má ấm mềm như tan chảy, thấm dần vào từng mạch máu. Bờ môi căng mọng khẽ chạm, run run hòa vào nhịp tim thổn thức. Nụ hôn nồng nàn đưa tôi lạc giữa cánh đồng tam giác mạch phảng phất hương hoa trong gió núi.
Em trong vòng tay tôi như một phần của đất trời. Hơi thở ấm hòa vào gió. Làn tóc vương mùi khói bếp và nắng gió cao nguyên. Xa xa, suối Hoàng Hồ róc rách như khúc nhạc êm. Hai thân thể hòa vào nhau trong làn sương mỏng, như nước tan vào suối, như gió khẽ cuốn hương rừng. Hơi thở tìm nhau, chậm rãi mà sâu lắng. Mọi âm thanh dường như lắng lại, chỉ còn nhịp rung rất khẽ, lan đi như một khúc ngân dài, dịu dàng mà nồng nàn giữa đại ngàn.
- Tặng em đó.
Em đưa tay chạm khẽ mép tranh, ánh mắt long lanh:
- Chắc anh sẽ không trở lại đất này đâu chứ?
Vẫn là cái giọng hồn nhiên như không mang theo chút buồn. Tôi khựng lại, rồi quả quyết:
- Có, anh sẽ trở lại. Tin anh.
Tôi nghĩ, sẽ mang tác phẩm và đặt nó trong một khung thật xứng tầm - thứ khung chỉ có thể tìm thấy ở Hà Nội. Nhiều khi ngồi một mình trong căn phòng ngập khung vẽ, mùi sơn còn ngai ngái, tôi lại nghĩ đến em. Tôi chợt nhận ra mình đã từng giống một gã thợ săn tham lam: bắt gặp một cánh rừng đầy muông thú, chỉ nghĩ đến chiếm hữu, tận diệt, thay vì lặng lẽ ngắm nhìn và gìn giữ. Ở em, tôi gặp lại một vẻ tinh khôi, trong trẻo.
5.
Ngày tôi tìm đến mộ em. Gió cao nguyên ràn rạt thổi qua bãi cỏ, như tiếng thở dài của núi rừng trong buổi chiều hoang hoải. Trước mặt tôi là tấm bia nhoi nhoi, không khắc ảnh, chỉ còn một cái tên và hai con số ngắn ngủi chia đôi kiếp người. Tôi thắp nén hương, khói nhang quyện lại, như liệm kín một nỗi buồn.
Phía sau, người thợ hồ - anh trai của Mẩy, người đã hỏi mua tranh tôi hôm nào lặng lẽ đứng đó. Một lúc lâu, anh cất giọng trầm khàn:
“…Con bé nó thông minh, sáng dạ nhất nhà. Từ nhỏ đã mơ làm họa sĩ, vẽ bản mường, vẽ núi, vẽ rừng. Lên cấp 3, nó lại bảo: học vẽ cũng quý, nhưng học chữ còn cần hơn, để sau này về dạy chữ cho con em người Dao mình. Năm cuối sư phạm, khi bạn bè còn lo bài khóa tốt nghiệp, nó bỗng ngã quỵ. Lưng đau thắt, như có ngàn mũi kim đâm. Ban đầu, bác sĩ bảo đau cơ. Nhưng rồi ngày qua ngày, cơn sốt cứ bám riết, hơi thở gấp, môi dần thâm tím. Đi hết bệnh viện này đến bệnh viện khác… Cuối cùng người ta nói nó bị ung thư tủy.
Nó gầy mòn như chiếc lá úa giữa mùa xanh. Vậy mà đôi mắt vẫn sáng, không một giọt nước mắt. Như thể nó đã biết trước cái ngày phải đi. Ở bản Dao, người ta sợ nhất con gái chết khi chưa kịp lấy chồng - hồn sẽ vất vưởng, không vào được bàn thờ tổ tiên. Nhưng nó không oán thán gì.
Những ngày cuối, nó chỉ nói, giọng đứt quãng… rằng muốn được về bản, nhìn lại dòng suối, nhìn cánh đồng tam giác mạch nở trắng. Rồi nó bảo… ước một lần được chạm vào bức tranh của anh họa sĩ…”.
Khoảnh khắc nghe anh kể, tôi hiểu, bức tranh không còn chỉ là màu sắc và đường nét. Nó đã hóa thành nỗi khát khao sống, là mảnh tự do cuối cùng em muốn mang theo khi rời cõi này. Khi ấy tôi đã hiểu vì sao người anh đã thề, bằng mọi giá sẽ tìm và mang bức tranh về, đặt vào tay em trước khi mùa hoa tàn.
Cổ họng tôi nghẹn lại, như bị gió núi chặn ngang lồng ngực. Nén hương run rẩy trên tay hướng về phía thung lũng, mùi trầm bảng lảng như khói mây phủ lấy núi rừng. Tôi ngước nhìn trời, thấy vòm vũ trụ mênh mông mà mình nhỏ bé, chỉ còn biết bấu víu vào đó để gửi đi một lời xin lỗi muộn màng, và một lời hứa còn dang dở chưa kịp trao.
*
Tôi lại đi, lang thang tìm bóng hình em lẩn khuất giữa cao nguyên. Trong ánh hoàng hôn nhạt dần, phía xa thấp thoáng một tà áo trắng lướt nhẹ. Tôi gọi em trong gió, em cứ trôi về phía cuối trời. Tôi trơ trọi giữa cánh đồng hoa trắng. Chợt gió nổi lên, từng cánh hoa bay như tuyết. Em chấp chới giữa thảo nguyên hoa trắng, tay vung như múa. Không tiếng hát, không lời gọi. Bất giác, em từ từ tan vào sương tím, vào mây trắng, vào vạt hoa nghiêng nghiêng theo gió, như thể chưa từng thuộc về thế gian này…
Tôi quỳ xuống, run rẩy. Trái tim khẽ nhói không phải vì đau mà như có một dòng sương lạnh vừa len vào khe hở ký ức. Một dải lụa lam mỏng manh hay chỉ là ảo ảnh? Chấp chới trong gió rồi khẽ vướng vào tay áo tôi. Màu ấy, màu em từng yêu, từng dùng để buộc mái tóc nghiêng nghiêng bên những bản thảo phác họa còn dang dở. Tôi đưa tay ra với. Nhưng chiếc nơ đã tan. Nhẹ như tro bụi, như hương phấn, bay ngược lên trời, lẫn vào mây, vào sương, vào khoảng không vô vọng...
Từ dạo ấy, năm nào cũng vậy, tôi lặng lẽ trở lại cao nguyên khi tam giác mạch vào mùa. Vẽ lại em trong tâm tưởng. Treo bức chân dung cũ lên vách đá lặng im. Thắp nén hương gió, miệng thì thầm: “Anh về rồi đây”.