Mừng tuổi mới
Chiều ba mươi, ba ngồi nhìn xa xăm. Cánh đồng phía trước nhà lúa mạ lên xanh. Cái vệt xanh đến nghẹn ngào kéo dài tới tận chân trời. Tôi ngồi thềm hiên lau chùi mấy cái bóng đèn dầu hỏa, thấy trong mắt ba sáng lên một điều gì đó, như là vừa biết chấp nhận vừa nhen nhóm chút hy vọng cuối cùng.
Tháng chạp, mưa đã ngơi, tiết trời thôi rét, chỉ còn không khí se lạnh vẫn ăm ắp. Bầu trời sáng hẳn ra khiến cho ai nấy có chút hồ hởi, ờ, rục rịch chẳng bao ngày nữa đã hết năm.
Tôi khoác thêm áo ấm cho ba đỡ lạnh khi dìu ba lên xe rời cái nơi chẳng ai muốn ở. Lúc ấy tôi nhìn thấy ba mỉm cười, một nụ cười kiểu như vừa thỏa mãn vừa chấp nhận.
- Con cho ba về làng luôn, được không con?
Trời ơi, sao ba lại nói với tôi lời cầu xin. Phải chăng như ai đó nói tới lúc già người ta đều hóa trẻ con, hay dân gian vẫn bảo trẻ cậy cha già cậy con. Ba tôi chưa già, chỉ mới ngoài sáu mươi, nhưng lúc này đây ngắm thân hình tiều tụy của ba, với lời cầu xin khẩn thiết, tôi không thể ngăn suy nghĩ rằng ba không còn được bao ngày.
Sáng nay bác sĩ đã thông báo cho tôi biết tiên lượng xấu ấy. Và bằng một chút linh cảm, tôi cũng biết rằng các bác sĩ luôn muốn những trường hợp vô phương cứu chữa như ba tôi được sống những ngày tỉnh táo ở bên ngoài bệnh viện. Tôi xin đưa ba về, vị bác sĩ miễn cưỡng gật đầu, kèm một cái vỗ vai an ủi, có lẽ bác sĩ cũng đã cố gắng hết sức rồi.
- Mình về thôi ba. Đồng làng mình bữa nay đang vụ đông xuân, cảnh chắc đẹp lắm. Nếu ba muốn, năm nay mình ăn Tết ở quê luôn.
Mắt ba rạng rỡ hẳn lên. Tôi có chút chạnh lòng, như thể mình vừa nói dối ba một điều quá hệ trọng. Sự sống của ba bây giờ tính từng ngày chứ đâu có được thong thả mà nghĩ đến Tết.
- Ba biết bệnh tình của ba, ba muốn nhắm mắt chính nơi mình chào đời, con cho ba được toại nguyện.
Mắt tôi ừng ựng nước, nếu không có ai ở đây lúc này, tôi đã khóc ngon lành. Tôi gắng gượng cười, nói với ba rằng bác sĩ cho ba về nghỉ ngơi ăn Tết, rồi sẽ khỏe dần thôi. Ba gật đầu, chắc để tôi yên tâm rằng ba cũng tin điều đó.
Xe ô tô chạy chầm chậm rồi dừng bên đường. Tôi đưa tay mở chiếc cổng tre rào nẹp đơn sơ, đẩy xe lăn đi thật chậm giữa hai hàng chè tàu màu lá xanh thẫm. Kể từ ngày tôi làm việc ở thành phố, ba cũng rời quê lên sống cùng tôi. Ba luôn coi tôi là đứa trẻ con lên năm mồ côi mẹ, lúc nào cũng lo lắng đủ thứ chuyện. Mười năm đi làm ở thành phố, trong căn nhà tập thể cũ kỹ, ba luôn dậy sớm nấu cơm để tôi ăn thật no bữa sáng trước khi đi làm. "Không ai thương bằng cơm thương", ba thường nói khi mở cái lồng bàn đã sẵn sàng đĩa rau thịt và hai bộ chén đũa.
Qua hết lối chè tàu là một bức bình phong cũng bằng chè tàu. Xưa ông nội tôi trồng cũng tính toán hết cả, vừa để tạo cảnh quan nhưng cũng đảm bảo đủ món trong kiến trúc một nhà vườn miền Trung. Cái bình phong án ngữ chính giữa theo quan niệm để chắn gió độc cho ngôi nhà, vừa để người ta đi từ ngoài vào thì không được xộc thẳng chính diện mà phải rẽ sang hai bên. Tôi đẩy xe theo lối bên trái rồi dừng giữa sân cho ba ngước nhìn lên cây mai.
- Năm nay cũng có bông chơi đấy con.
- Mình bỏ bê không chăm gì cả mà nó cũng nẩy nụ, chắc do thời tiết thuận.
Cái giống mai vàng là thế, cứ đúng ngày đúng tháng thì nó tự liệu tính mà làm nụ cho hoa. Những gốc càng già càng sai hoa và nở đúng Tết, cây cối cũng như người, nó cũng đúc rút kinh nghiệm, ấy là một thứ phản xạ có điều kiện. Cây lão mai nhà tôi đến mùa đông tự trút lá dần, một ít lá vàng chắc mới rụng xuống nằm rải ra trên lớp lá úa đen sắp mục.
- Còn một ít lá trên cây, mai mốt con leo lặt cho nó nở đều. Tội nghiệp.
Ba thương cây mai, hay đó chỉ là thói quen của những người sống quá cẩn thận với cuộc đời, luôn muốn mọi thứ hoàn hảo. Tôi thì thấy chẳng quan trọng gì mấy chiếc lá già cỗi trên kia, đằng nào rồi nó cũng sẽ rụng sạch. Mọi năm chẳng cần hái ngắt gì cả cây vẫn nở đấy thôi. Nghĩ thế nhưng để cho ba vui, tôi trèo lên vặt nốt mấy cái lá còn sót lại, cũng chỉ một loáng là xong. Lá cuối kỳ khô và giòn, chỉ đưa tay khẩy nhẹ đã lìa cành. Ba nói lá như đời người, già thì rụng thôi, nhưng nó sẽ trả dưỡng chất cho nụ nở thành hoa đẹp.
Buổi chiều, vài người hàng xóm hay tin ba tôi về đã ghé đến thăm chơi. Bà con biết ý, không nói gì đến chuyện bệnh tật, nhưng mấy thứ quà quê họ mang đến thì có thể hiểu là đi thăm người ốm: một đùm trái cây chắc là hái trong vườn nhà, chai mật nghe bảo mới chắt được từ tổ ong trên cây vông. Lại có người cho lời khuyên, mách nước bài thuốc, thôi thì còn nước còn tát, kinh nghiệm dân gian có khi cũng hữu ích.
Tôi sang chùa làng gặp sư cô trụ trì xin phép hái một ít lá cây sung. Chùa có cây sung to, nghe kể lại chẳng phải ai trồng mà do chim tự tha hạt về thả xuống. Cây rậm rạp, tán che một khoảng sân rộng. Sư cô bảo nên hái những lá sung già có đốm nổ, ấy là những chỗ lá do sâu nhộng trú ngụ làm phồng lên cỡ hạt bắp ngô, tới khi chúng bỏ đi thì để lại trên lá những chỗ lốm đốm, hoặc rách thủng. Thứ lá ấy mới có nhiều thảo dược. Tôi nghe và tin, hái được một mớ lá đựng trong chếc nón lật ngửa.
- Hiếu đễ cũng là một dạng năng lượng có thể chuyển hóa. Nhớ thành tâm nghe con.
Sư cô dặn. Tôi dạ, rồi cung kính vái chào.
Mớ lá sung đem về trải ra nống. Tháng chạp thôi mưa, trời không nắng nhưng gió xuân sớm phây phẩy cũng đủ để phơi phóng vài thứ. Lá sung phơi tiu tiu đem gói vào giấy báo thành từng gói như thang thuốc.
Tôi đặt những thang thuốc bên trong chỉ toàn lá sung vào cái mâm đồng xưa. Đội mâm lên đầu như người đi lễ, tôi cẩn trọng men theo con đường đất giữa cánh đồng. Tôi cũng đang đi lễ miếu ngài.
Con đường ra đồng buổi sáng sương ướt cỏ, khá trơn, đi không khéo rất dễ trượt ngã. Hai bên lối đi là ruộng, lúa mới lên cỡ gang tay, xanh màu mạ non. Tôi vừa bấm đốt ngón chân, tay vừa giữ thăng bằng cái mâm đồ lễ gồm mấy thang thuốc và chai rượu đế trắng, thẻ nhang.
Ngôi miếu cổ nằm giữa đồng. Từ trong làng nhìn ra chỉ thấy một đám màu xám rêu nổi trên gò đất cao. Tương truyền khi xưa làng có thầy Đông y giỏi, bốc thuốc cứu được biết bao nhiêu người dân xa gần, tiếng tăm vang dội. Khi vị lương y qua đời, được làng chôn cất tử tế trên một mô đất cao ráo giữa đồng, để ngài được hưởng sự an yên vĩnh viễn.
Thế nhưng mỗi khi ai có bệnh lại ra thắp hương vái mộ ngài, hy vọng chút linh khí năm xưa vẫn còn phò trợ cho kẻ hậu thế. Lại nghe nói rất nhiều người nhờ thắp hương khấn nguyện ở miếu ngài mà bệnh tình thuyên giảm hẳn. Đời này đời nọ truyền tai nhau, người này người nọ truyền tai nhau, xưa bày nay làm, niềm tin như tiếng thơm, còn mãi.
Khi tôi đến miếu thì đã có người ở đây đặt lễ trước. Một cụ râu tóc bạc phơ trông đẹp lão. Cụ chỉnh tề khăn đóng áo dài, thắp hương quỳ khấn lâm râm. Cụ đứng lên, tiến đến bàn thờ nhặt hai xu tiền xưa đặt vào lòng bàn tay.
- Xin ngài ban ân huệ cho con trai của con.
Nói xong cụ thả hai đồng xu xuống dĩa. Tôi đứng chờ cách đó mấy bước chân nên nhìn rõ. Cả hai mặt giống nhau, tức là keo chẵn.
Cụ già lại quỳ xuống vái lạy, khấn vái. Xong đứng lên tiến đến thả đồng xu. Cả ba lần như thế mà đồng xu vẫn ra hai mặt giống nhau. Mặt cụ chợt biến sắc rõ rệt, vẻ điềm đạm đã pha thêm chút thất vọng.
- Bạch. Nếu ngài thấy không cứu được thì cũng cho con biết, để gia đình toan liệu hậu sự.
Nói xong cụ lại thả hai đồng xu. Lần này thì ra hai mặt khác nhau, keo lẻ, nghĩa là ngài đã cho biết tiên lượng. Cụ vái tạ rồi chậm rãi thui thủi ra về.
Tôi đặt mấy gói lá sung lên mép bàn thờ. Rót rượu lên mâm thượng và mâm hạ, quỳ khấn.
- Xin ngài cho chúng con được dùng thuốc này để cứu vãn người cha tội nghiệp.
Khấn xong, tôi lại đến thả đồng xu. Hai đồng xu rơi xuống dĩa phát ra tiếng kêu "cạch" dứt khoát. Một đồng sấp, một đồng ngửa, vậy là ngài thuận rồi, ngay lần gieo xu đầu tiên.
Tôi vái lạy tạ. Rót các ly nước trên bàn thờ vào chai nước lọc. Lại rót các ly rượu vào chai rượu mang theo. Thừa thần như huệ. Cả hai loại nước này sẽ pha vào chén nước thuốc sau khi sắc xong.
Tháng chạp năm nay chỉ có hai chín ngày. Người ta cứ trù trừ tính toán, ví như hôm nay hai nhăm thì lại bảo hai sáu, cứ cộng dồn thêm vào một ngày để tính thời gian của Tết, rối cả lên. Nhưng tôi lại thích điều này, vì thiếu đi một ngày cuối tháng, tức là Tết sẽ tới nhanh hơn một chút, ấy là tôi đang nghĩ đến ba.
Từ hôm rời bệnh viện về quê đến nay cũng đã hai chục ngày, nói dại miệng, ba vẫn còn minh mẫn. Ba nói muốn đi xem chợ quê. Tôi đẩy xe lăn ra ngõ, đi thật chậm qua mấy khúc đường làng.
Chợ tết bây giờ không quá đông đúc như xưa, bởi người ta mua sắm dễ dàng hơn nhờ mấy dịch vụ bán hàng qua mạng. Từ xa, đã thấy những sắc màu xanh đỏ của mớ đồ giấy vàng mã treo lủng lẳng dưới mái chòi quán. Bên lề đường người ta bày hàng bán tràn cả ra, chỉ chừa một lối vừa đủ cho xe thô sơ và người đi bộ.
Những mủng cát trắng vun đầy được lấy từ miệt biển đưa lên, là thứ chỉ duy nhất bán vào dịp cuối năm. Ba nói mua ít cát về thay bát nhang. Tôi nhẩm tính số bát nhang trên bàn thờ, căn nhà hương hỏa truyền đời nên bát nhang cũng khá nhiều, rồi lại hình dung chắc Tết sang năm sẽ có thêm một bát nhang nữa.
Chiều ba mươi, ba ngồi nhìn xa xăm. Cánh đồng phía trước nhà lúa mạ lên xanh. Cái vệt xanh đến nghẹn ngào kéo dài tới tận chân trời. Tôi ngồi thềm hiên lau chùi mấy cái bóng đèn dầu hỏa, thấy trong mắt ba sáng lên một điều gì đó, như là vừa biết chấp nhận vừa nhen nhóm chút hy vọng cuối cùng.
Giao thừa, tôi chỉnh tề áo quần, đốt nhang rồi nghiêm cẩn khấn vái trước bàn thờ. Lần đầu tiên trong đời tôi làm việc thiêng liêng này. Tôi cố gắng thật thành tâm, cũng để ba yên lòng.
Cuối cùng thì Tết cũng đã đến thật sự. Ngày hôm qua và hôm nay, năm cũ và năm mới, chỉ là một sự chuyển tiếp của khoảnh khắc giao thừa mà thôi. Thế nhưng, chưa bao giờ tôi cảm nhận được một sự may mắn lạ lùng đến thế, chỉ đơn giản là bởi khoảnh khắc ấy ba tôi được thêm một tuổi.
Ba xòe bàn tay gầy rộc ra, một tờ tiền lẻ nổi trên những đốt xương run rẩy. Ba đã chuẩn bị sẵn để lì xì cho tôi, vì lúc nào ba cũng nghĩ tôi còn nhỏ lắm.
Phút giây ấy, tôi rưng rưng không biết nói gì.