Và họ gọi đó là mùa Xuân
Trong nắng nhẹ, Đạt có dịp nhìn rõ hơn mái tóc đen óng thả trên đôi vai mềm của Thơ, thấy một chút gió thoảng cuốn theo tà váy ôm lấy đôi chân nhỏ xinh của nàng. Và, cả nụ cười ấy nữa. Nụ cười vẫn có trong giấc mơ hằng đêm khiến Đạt như khô cạn trong khao khát. Đạt cứ đứng ngây ra như thế ngắm nhìn Thơ của anh. Thơ dẫn anh đi theo lối nhỏ về bản. Đạt không nhớ mình đã bước đi như thế nào, lối vào bản Hoa mơ màng như mộng ảnh.
Năm ấy, thấy Đạt xin không phải trực, mọi người rất ngạc nhiên, bởi hằng năm, cái việc trực Tết gần như chẳng phải phân công vì đằng nào thì Đạt cũng ở lại cơ quan và thế là trực Tết luôn. Cái việc Đạt không trực Tết tưởng nhỏ nhưng nó cũng tạo ra một sự xáo trộn không hề nhỏ trong cơ quan chuyên về văn chương này.
Ban đầu là phải rà lại những người có trường hợp đặc biệt như quê xa, cha già mẹ yếu, vợ dại, con khôn, bồ trở quẻ,... đại khái thế. Kế đến là xét ai có thành tích tốt, ai ít nghỉ tranh thủ trong năm rồi mới bỏ phiếu, phân công ai trực ngày nào, mùng Một hay Ba mươi...
Tóm lại, khi ta được hưởng một điều gì đấy cứ tưởng rằng đó là điều hiển nhiên ta được hưởng, nhưng ít ai biết rằng nó đều có cái quy luật bù trừ cả. Việc có chừng ấy, nếu mình không làm thì người khác phải gánh. Cơm có chừng ấy, nếu mình ăn hết thì người khác phải nhịn! Vậy thôi.
Khi đã phân công nhau trực Tết xong rồi, những người phải ở lại trực tự nhiên nhìn Đạt với ánh mắt như có vẻ trách móc, thậm chí là hằn học. Chắc họ đều nghĩ đang yên đang lành Đạt lại dở chứng, đòi thay đổi cho công việc xáo trộn ra, dù mọi năm Đạt trực thì cũng chả ai sớt lại tiêu chuẩn Tết cho Đạt, hay khi đi làm thì cũng chẳng ai có đồng quà tấm bánh gửi cho Đạt gọi là có không khí ngày Tết từ quê đưa lên. Mới hay, khi mình làm những việc đã thành thói quen, mà để mọi người nghĩ đó là đương nhiên rồi, thì khi thay đổi, dù đúng cũng giống như mình là kẻ tội đồ.
Người đầu tiên chất vấn Đạt là Hoàng - trợ lí chính trị của cơ quan - mới đặt mông xuống ghế, Hoàng đã nói: “Năm nay tự dưng anh dở chứng làm bọn em khó sắp xếp quá”. “Ơ hay, thì các cậu cũng phải cho mình biết tí Tết nó thế nào chứ”. “Thì anh ở cơ quan vẫn có Tết đấy thôi, lại được ăn Tết Thủ đô chả sướng hơn à, chả phải hành quân vất vả gì. Mà em hỏi thật, chả nhẽ năm nay anh về quê... chị ấy?”. “Chị nào? Vớ vẩn”. “Tóm lại là sao? Anh đi đâu, về đâu trong ba ngày Tết thì cũng phải cho bọn em biết với chứ, nhỡ đâu còn... đi tìm”. “Cậu yên tâm, tớ đâu phải là con nít mà đi đâu phải cần người tìm”. “Nhưng, anh có thể bật mí là anh đi có mục đích gì được không?”. “Mình đi... tìm”.
Biết chẳng hỏi thêm được gì ở Đạt, Hoàng đành tiu nghỉu ra về. Hoàng đến cũng chẳng phải vì quan tâm gì nhau đâu, trước để thỏa cái chí tò mò, sau nữa là nếu có thể được thì nhờ Đạt trực thay cho cậu ấy ngày mùng Một, nhưng khi thấy tình hình không khả quan, đành ra về. Sau Hoàng, ba bốn cậu phải trực Tết nữa cũng xuống gõ cửa phòng Đạt, và họ đều chung một ý nghĩ ấy. Ở với nhau lâu trong cái môi trường văn chương, đọc vị nhau dễ lắm.
Rồi cũng đến ngày hai ba tháng Chạp, Đạt lấy cái cốc uống nước trên bàn, bỏ vào đấy một phần tư gói mì tôm đã bóc vỏ, đưa ba lô xuống đặt sau cái cốc, châm hương cắm vào mì tôm và nói: “Hôm nay mọi người tiễn ông Công, ông Táo về Trời, con quanh năm suốt tháng cơm hàng cháo chợ không bếp núc gì nên chẳng có ông Công, ông Táo nào ngụ đâu mà tiễn, mẹ nhỉ. Trong căn phòng này chỉ có mẹ và con, năm nay mẹ con mình cùng đi ăn Tết xa, mẹ nhé”.
Tâm sự xong, đợi cho hương tàn, Đạt khoác ba lô lên vai, khóa cửa và đi ra đường. Đạt chủ định, khi ra đến đường, sẽ bắt chiếc taxi đầu tiên mình thấy. Khi đã yên vị, người lái taxi hỏi địa chỉ, Đạt nói: “Anh cho đến bến xe gần nhất”. “Anh đi bến phía Nam hay phía Bắc, đường ra đấy gần bằng nhau”. “Tùy anh”. “Ơ hay...”. “Thì tùy anh mà, bến nào cũng được”. “Em xin anh đấy, Tết nhất đến nơi rồi đừng đùa em mà tội nghiệp, anh đi bến nào cho em biết để em còn chạy cho nhanh thêm cuốc nữa kiếm cái Tết cho các cháu”. “Phía Bắc” - Đạt buột miệng nói.
Khi đến bến xe phía Bắc, Đạt nhảy đại lên một chiếc xe đầu tiên khi nó đi ra khỏi cổng, trên kính xe không ghi địa chỉ đến. Mà về đâu thì cũng kệ, Đạt đâu cần quan tâm. Chỉ đến khi phụ xe đến thu tiền, hỏi thì Đạt mới ớ ra và nói: “Anh cho đi đến cuối bến”. Vâng, cứ đi đến cuối bến đã rồi tính. Đạt nằm trên xe, ôm khư khư cái ba lô nhưng một báu vật. Đó là hơi ấm, là cả quê hương của Đạt.
*
Xe chầm chậm về bến cuối, nhõn chỉ còn mình Đạt bước xuống đường, gió lạnh đâu bỗng ùa về như vậy kín lấy mỗi mình Đạt. Một mình với ba lô nhỏ trên vai, Đạt ghé đại vào tòa khách sạn còn sáng đèn. Lễ tân khi trao chìa khóa phòng cho Đạt, hỏi: “Anh ở mấy ngày?”. “Chưa biết, cứ ở ngày nào tính tiền ngày đấy nhé”. “Nhưng...”. “Ý cô là Tết nhất đến nơi rồi chứ gì? Không sao, nếu ở cả Tết thì những ngày Tết tự tôi phục vụ mình, tôi có đầy mì tôm trong ba lô”. “Vâng, tùy anh, tầng bốn cũng có mấy cô quê xa, Tết nay không về, nếu cần x, y, z thì anh cứ xuống đấy. Các mặt hàng khác ngày Tết thường tăng giá nhưng cái “ấy” thì Tết lại giảm đấy...”. Nói xong, cô lễ tân cười ý nhị, còn Đạt thì nghĩ thầm, nhiều khi cái tưởng như bình thường của người này lại là sự xa xỉ của người khác.
Đạt lên phòng, không cả tắm rửa. Vừa đặt lưng xuống giường thì nghe có tiếng gõ cửa, nghĩ là lễ tân đưa đồ lên nên Đạt vội vàng ra mở. Nhưng, trước mặt anh là một cô gái áng chừng trên hai mươi tuổi, áo dài trắng tha thướt, cặp môi cánh sen đẹp như trăng. Đạt thoáng giật mình, không lẽ... khuôn mặt ấy, nụ cười ấy...
Không đợi Đạt mời, cô gái lách vội qua cửa vào phòng. Đạt vẫn đứng như trời trồng, chỉ đến khi cô gái lên tiếng thì anh mới bừng tỉnh: “Ơ, anh không mời em ngồi à?”. “Cô... em... em là ai... tôi...”. “Không phải là anh đang đi tìm sao? Em đây, Thơ của anh đây...”. Đạt vơ vẩn nghĩ, Thơ nào nhỉ? Không phải Thơ, nụ cười ấy, chính nụ cười ấy trong khoảnh khắc chỉ bằng cái chớp mắt!
Đúng chỉ bằng cái chớp mắt nhưng nó đã in sâu vào tâm tưởng anh, nó đã ám ảnh anh cả một thời tuổi trẻ và nó! Chính nó đã biến anh thành một nửa là đàn bà! Nhưng, đôi mắt ấy lại là Thơ! Có phải Thơ không nhỉ? Trong kí ức quá vãng của anh chỉ có một bé gái tên Thơ ở cạnh nhà, nhưng chắc chắn là không phải cô này. Thơ của anh nhem nhuốc, lấm lem bùn đất ruộng đồng. Thơ của anh cần lao nhọc nhằn nắng gió và cái ăn cái mặc. Thơ của anh đã về trời. Thơ bay về trời trước mắt anh khi một cành đa gãy trong trò chơi Hằng Nga, chú Cuội.
*
Cái ngày xưa quá vãng xa lắc lơ đó cũng đã hơn ba mươi năm. Mẹ con anh từ đâu đến, người làng không biết. Quê hương của mẹ anh ở đâu, anh không biết. Cha anh là ai thì chính mẹ anh cũng không biết. Anh chỉ biết rằng, mẹ anh là một người đàn bà nhan sắc và làm thơ. Ngày ấy, anh chưa đủ lớn để cảm nhận được thơ của mẹ mình hay hay không, anh chỉ biết mẹ là một nhà thơ khá nổi tiếng với nhiều giải thưởng được trao, rồi can cớ chi mẹ con anh về đây sinh sống thì anh không biết.
Ngày còn bé thơ ngây, đã đôi lần anh hỏi mẹ cha của mình là ai, mẹ cười buồn rồi nói: “Đến mẹ cũng không thể biết, con ạ. Con ngoan thì xin con đừng hỏi mẹ nữa, mẹ muốn quên”. Từ ngày về làng sống, anh không còn thấy mẹ làm thơ. Nguồn sống chính của mẹ con anh là hàng chè chén ngay gốc đa đầu làng và hàng chè ấy cũng chỉ bán và biếu không những người nông dân lam lũ chân lấm tay bùn. Mẹ cạch bọn văn nhân, trả bao nhiêu tiền mẹ cũng không bán.
Làm đàn bà đã khổ, làm đàn bà đẹp mà muốn giữ phẩm hạnh lại khổ hơn ngàn lần - hình như đã có lần mẹ nói với anh như thế. Lớn thêm tí nữa, anh hỏi quê của mẹ ở đâu, để lớn lên con còn tìm về. Mẹ cười buồn, nói: “Ông bà ngoại của con không còn nữa, mồ mả đã có các bác lo, mẹ là niềm hy vọng lớn nhất và cũng là nỗi thất vọng lớn nhất của gia đình, vậy nên mẹ không muốn quay về để các bác thấy cái nỗi thất vọng hiển hiện hằng ngày trước mắt mình. Thà cứ khuất mắt trông coi, con ạ”. “Nhưng, con thì cần biết nguồn cội”. “Con yên tâm, rồi mẹ sẽ cho con biết khi con đã trưởng thành”.
Cạnh phòng trọ của mẹ con anh thuê là nhà của em Thơ, bố em là họa sĩ. Ngày đó em Thơ lên chín lên mười, thường theo Đạt ra chơi quanh cây đa, đã có lần chơi trò Hằng Nga, chú Cuội, Đạt làm chú Cuội, còn Thơ làm Hằng Nga. Chú Cuội không cha và Hằng Nga không mẹ. Có lần, trong các cuộc chơi, Thơ hỏi Đạt: “Lớn lên anh sẽ làm gì?”. “Anh sẽ đi tìm”. “Anh đi tìm bố à? Em lớn lên cũng đi tìm mẹ”. “Không, anh không tìm bố, anh sẽ tìm Thơ”. Nghe Đạt nói thế, Thơ thoáng đỏ mặt, cái đỏ mặt của đứa con gái lên mười!
Cuối năm ấy, cũng trò chơi Hằng Nga, chú Cuội, Thơ leo lên cành đa làm Hằng Nga, Đạt ngồi dưới gốc đa làm chú Cuội. Từ trên cành đa, Thơ hỏi: “Lớn lên anh Đạt sẽ làm gì?”. “Anh sẽ đi tìm”. “Anh đi tìm ai?”. “Tìm Thơ”. “Anh hứa nhé... nhớ tìm Thơ... nhé...”. Bỗng, cành đa gãy và Thơ bay về trời.
Dưới gốc đa ấy, sau này người ta dựng một cái miếu thờ, gọi là miếu Hằng Nga, nghe đồn rất thiêng, ai xin gì cũng ứng, trừ văn chương! Từ ngày có miếu Hằng Nga, khách xa khách gần kéo về quán chè chén gốc đa càng nhiều, có người bảo do miếu thiêng, cũng có người bảo do mẹ càng ngày càng đẹp. Khổ nỗi, tìm về toàn những người tự xưng là khách văn chương. Mẹ chép miệng, mắt dõi xa xăm: “Chỉ rặt một đám văn nhân nửa mùa. Thế này thì bể khổ còn rộng dài lắm...”.
Sau ngày em Thơ về trời, người họa sĩ cô đơn ấy đưa hết tranh của mình ra miếu Hằng Nga đốt. Lửa bùng lên và mọi người thấy nào chim muông, đàn ông, đàn bà, cảnh vật... từ đống tro tàn bay lên, bay lên, bay lên mãi.
Người họa sĩ cô đơn chỉ chừa lại duy nhất một bức tranh. Bức tranh vẽ về một người đàn bà khỏa thân, nhìn vào tranh, người ta thấy cái đàn bà hiển hiện, rõ nét mồn một. Rồi, trả nhà, bẻ cọ, đốt giá vẽ..., người họa sĩ cô đơn ấy bỏ đi, ông lấy bức tranh người đàn bà khỏa thân có cái của đàn bà to quá cỡ đội trên đầu. Ông đi đâu không ai biết, về đâu chẳng ai hay, có chăng chỉ còn gió và mây...
Sau này, Đạt được đi nhiều nơi, trong đó có thánh địa Mỹ Sơn, đến Ấn Độ..., thấy họ thờ những tảng đá hình linga, rồi đến tượng Bà Banh... thì Đạt mới phần nào hiểu được cái tầm của người họa sĩ cô đơn khi đội bức tranh người đàn bà khỏa thân mà đi khắp thế gian. Ông ấy đã đạt đạo từ bao giờ! Đạo và đời e vẫn còn gian nan lắm! Ai đạo kệ đạo, ai đời mặc đời, nhưng từ thánh nhân đến kẻ cướp đều chui ra từ váy mẹ!
*
Rồi, khi Đạt lớn lên, khách văn nhân vẫn tìm về với miếu Hằng Nga ngày một nhiều! Nực cười thay, trong đám khách văn nhân về miếu Hằng Nga xin lộc lại có cả mấy vị lãnh đạo! Mẹ thở dài, lắc đầu: “Đội lốt, trá hình cả thôi. Thơ bị vấy bẩn cả rồi. Con tránh những thứ ti tiện ấy ra nhé! Mình làm người, con ạ”.
Mẹ nói thế nhưng Đạt không phải tránh, người ta đã cho Đạt ra chiến trường để mình mẹ ở nhà. Cái khổ của người đàn bà là không thể giấu được nhan sắc của chính mình! Mẹ càng cô đơn, càng khổ càng xinh! Đầu năm, hoa gạo đỏ như máu, Đạt cùng trai làng ra miếu Hằng Nga thắp hương rồi vội vã ra đi!
Sau mấy tháng huấn luyện, Đạt cùng đồng đội vội ôm súng sang chiến trường K! Chẳng hiểu do cái gen di truyền từ mẹ, từ cha hay do xa nhà lạ nước, Đạt cũng bắt đầu làm thơ, những bài thơ buồn man mác. Khi anh trung đội trưởng biết Đạt thích làm thơ, anh nói: “Chiến trường không nên có đàn bà và thơ”.
Các chốt thường bố trí theo thế chân vạc, Đạt thường được bố trí ở tuyến sau. Và rồi, đến một ngày, chốt của Đạt bị tấn công, toàn trung đội tập trung hỏa lực về hướng địch, chỉ mỗi mình Đạt theo nhiệm vụ được giao là cảnh giới phía sau. Như dự đoán của trung đội trưởng, từ vị trí quan sát, Đạt phát hiện ra mục tiêu đang bò vào, chưa vội tiêu diệt, Đạt đợi mục tiêu đến gần hơn và quan trọng là quan sát kỹ xem chúng có mấy tên.
Phía trước, súng hai bên vẫn nổ rát, mục tiêu vẫn đang trong tư thế lê thấp và Đạt thấy, ơ cái chỏm tóc, không đúng hơn là một cái nơ màu tím thắt lấy bím tóc đang chuyển động. Không lẽ là gái? Không phải là lần đầu tham chiến nhưng sao tim Đạt đập dồn dập..., đúng là nữ rồi và chắc chắn rằng phía trước chúng nó đánh nghi binh để “tên giặc nữ” này bò vào. Mục tiêu vẫn chầm chậm lê thấp, Đạt vẫn rê điểm ngắm cách cái bím tóc màu tím khoảng nửa gang tay.
Khi mục tiêu lê qua khỏi ụ mối phía trước, nó ngước lên nhìn và bốn mắt gặp nhau. Trong cái khoảnh khắc ấy, Đạt như ngợp thở, đôi mắt, đúng là đôi mắt của em Thơ... và hướng ấy, một trái lựu đạn tung về phía Đạt, lăn vội vào sau tảng đá. Đạt kê súng lên, mục tiêu rất gần ở phía trước, cái bím tóc ngoắt qua ngoắt lại theo bước chạy, cái eo con gái... Điểm ngắm ổn định, nhưng sao thế này, Đạt không muốn siết cò, đôi mắt ấy lại lần nữa mở to tròn thảng thốt trong tâm trí anh... mười, mười lăm rồi hai mươi mét...
Đạt vẫn không siết cò, chỉ còn vài bước nữa, mục tiêu sẽ băng qua được trảng cỏ và sẽ biến mất vào khoảng rừng thưa. Đạt vẫn không siết cò nhưng bỗng khẩu súng rung lên và mục tiêu đổ ập về phía trước. Đạt không tin vào mắt mình. Không, không thể như thế được, Đạt không muốn bắn...
Đêm ấy, sau ca gác, Đạt leo lên võng ngủ, đang chập chờn thì Đạt gặp Thơ. Thơ nhìn Đạt cười, nụ cười và ánh mắt ấy, ánh mắt, đúng ánh mắt rất giống Thơ và không phải Thơ. Trong sương khói rừng thưa, Thơ vẫy vẫy Đạt đi theo mình... Bỗng uỳnh, Đạt ngã lăn ra đất, đồng đội vội vã kéo Đạt về phía sau, chân trái Đạt bị mìn róc nhiều mảng thịt và quan trọng hơn, súng vẫn còn nhưng hai viên đạn đàn ông đã bay đi đâu mất! Súng còn mà không còn đạn thì sống cũng bằng chết mà thôi - sau này, khi biết sự thật, Đạt chán chường nghĩ vậy!
Khi về nước, Đạt được điều về đơn vị chuyên về văn chương, nghệ thuật. Mẹ đã mất. Đạt đến bên mộ mẹ thắp hương và lấy một nắm đất gói kỹ cho vào ba lô. Từ đó Đạt lấy cơ quan làm nhà, xa lánh đàn bà con gái, một mình ôm nỗi đau riêng!
*
- Ngày ấy, anh nói lớn lên anh đi tìm Thơ mà - Thơ nói!
- Anh đi tìm em hằng đêm mà không gặp, chỉ gặp nỗi cô đơn của chính mình.
- Em biết anh nơi ấy nhưng không thể đến được, âu cũng là duyên phận chúng ta chưa thể đến được với nhau.
- Thế sao hôm nay...
- Ngôi nhà anh ở quá nhiều âm khí, em không vào được, hôm nay anh ở đây, em đã được gặp anh... mình là vợ chồng nhé...
- Nhưng, đôi mắt em..., anh đã gặp một lần ở chiến trường K.
- Em không cản được, không thể cản được. Cái siết cò ấy là do em làm, nhưng em không thể cản được họ trả thù anh. Em biết anh sống không bằng chết, em thương và muốn bù đắp cho anh.
- Là thế, đến bây giờ anh vẫn không thể hiểu, tại sao con người lại cứ mãi bắn giết nhau? Không bắn giết mà yêu thương nhau có hơn không?
- Vẫn còn con người thì vẫn còn bắn giết nhau thôi, anh ạ. Sẽ chẳng bao giờ có sự công bằng. Thôi, không triết lý nữa, nào làm chồng em đi, mình chờ nhau đã quá lâu rồi.
Nói xong, Thơ đổ ập lên người Đạt và lạ chưa kìa, khẩu súng không đạn ỉu xìu đã bấy lâu nay bỗng giương nòng kiêu hãnh và những cơn rùng mình! Đạt nghe tiếng của Thơ thì thầm bên tai: “Anh có thấy hạnh phúc không”. “Có, em đã cho anh được làm đàn ông. Anh muốn được ở bên em như thế này mãi”. “Ngày mai, anh đi về phía Tây, cách ba ngọn núi, đến cái bản ở lưng chừng dốc có tên là bản Hoa, anh thắp hương ở miếu Hằng Nga ngay gốc cây đa đầu làng. Sau đấy anh sẽ được gặp em, và mình sẽ thành chồng thành vợ mãi mãi, anh nhé”.
Đạt rùng mình thêm lần nữa và dần dần tỉnh giấc. Lạ chưa kìa, đũng quần của Đạt ướt thành một mảng cứng như mo nang. Hơn bốn mươi tuổi đầu, đây là lần đầu tiên Đạt được nếm trải cảm giác ấy. Đạt vội vàng tắm rửa và đi theo chỉ dẫn của Thơ.
Đường lên bản Hoa không quá cao nhưng quanh co và nhiều dốc. Có những quãng, Đạt thấy con đường bỗng chốc bằng phẳng mà thân quen lắm. Đó là con đường làng ngày xưa, con đường vắt qua những ngõ xóm mà tuổi thơ Đạt và Thơ đã chạy chơi. Khi những cây hương Đạt cắm vào bát hương trước miếu Hằng Nga mới cháy hết hai phần ba thì từ phía bản Hoa, một thiếu nữ trong tà áo hồng nhạt như cánh hoa tầm xuân đang đến gần Đạt.
Trong nắng nhẹ, Đạt có dịp nhìn rõ hơn mái tóc đen óng thả trên đôi vai mềm của Thơ, thấy một chút gió thoảng cuốn theo tà váy ôm lấy đôi chân nhỏ xinh của nàng. Và, cả nụ cười ấy nữa. Nụ cười vẫn có trong giấc mơ hằng đêm khiến Đạt như khô cạn trong khao khát. Đạt cứ đứng ngây ra như thế ngắm nhìn Thơ của anh. Thơ dẫn anh đi theo lối nhỏ về bản. Đạt không nhớ mình đã bước đi như thế nào, lối vào bản Hoa mơ màng như mộng ảnh.
“Em nhớ anh quá chừng. Đã bao năm nay em nhớ anh, Đạt biết không?”. “Anh biết, anh biết, giờ thì chẳng còn gì có thể chia cắt được chúng ta nữa rồi”. “Em vẫn dõi theo anh đấy, từng phút từng giây”. “Dõi theo anh ư? Em thấy những gì? Anh sống như một người điên. Anh mặc cảm. Thơ anh buồn lắm!”. “Nỗi buồn là vẻ đẹp muôn thuở của nghệ thuật. Thơ mà chỉ cao giọng reo hò thì có khác nào hô hào khẩu hiệu, thơ phong trào. Đó đâu còn là thơ nữa”.
“Đúng thế, em ạ. Và, càng không thể nhân danh nghệ thuật để che đậy cho những toan tính bẩn thỉu, cho lòng tham và tội lỗi. Như thế sẽ giết chết nghệ thuật, giết cả những ước vọng thanh cao của con người. Em vẫn luôn bên anh, giá mà chúng ta được gặp nhau sớm hơn!”. “Mỗi người có một số phận, cơ duyên cũng phải chờ nhân quả đủ đầy. Không phải lúc nào chúng ta cũng được làm những điều mình mong muốn. Mình về nhà đi, anh sẽ gặp những người anh cần gặp”.
Đêm ấy, bản Hoa đèn nến lung linh, bạt ngàn các loại hoa giăng mắc kết chùm, hương thơm phảng phất. Người người nhộn nhịp, ai nấy đều tươi vui rạng rỡ. Họ ăn chung và say sưa nhảy múa suốt đêm. Mẹ của Đạt đang ngồi cùng cha của Thơ, chén cạn chén, lời nối lời.
Và, kia nữa, Đạt như gặp lại bao khuôn mặt anh từng gặp. Có khuôn mặt của những người làng uống quen chè chén ở quán của mẹ anh. Có anh trung đội trưởng năm nào đang ngồi uống rượu với cậu Nghĩa lãng tử, văn phong sang trọng mà tính tình thì kiêu bạc. Ơ kìa, có cả mấy cô gái ở ngã ba Voi đã từng khiến Đạt day dứt, “đời các em khác nào phận cô Kiều”.
Đạt hơi chững lại khi đi men qua một gốc cây lớn, anh nhìn thấy bên bờ suối có một ông lão ngồi câu, khuôn mặt phẳng lặng nhưng lạ thay, cái cần câu ấy không có dây... Còn nữa, còn nữa, những người đã quen và từng quen đi qua đi lại trước mặt Đạt, ẩn hiện thấp thoáng.
Đạt và Thơ vội vàng trốn vào phòng. Họ còn bao điều muốn nói, chưa nói. Họ nói về tương lai, về những vườn rau con gà và những đứa con thơ! Nói cười và họ lại mải miết quấn vào nhau. Phải chăng, năng lượng tình yêu đã tích tụ bao nhiêu năm nay bây giờ như suối nguồn chảy mãi, chảy mãi không thôi.
Thơ kêu lên trong sung sướng, hạnh phúc. Xung quanh họ lúc này, những tràng hoa ngậm nụ bỗng nhiên bật tung lớp cánh kép, tỏa thứ hương thơm đầy mê hoặc. Tiếng của những người yêu nhau quyện cùng tiếng hát, tiếng của đại ngàn mênh mông thăm thẳm. Họ yêu nhau như thuở hồng hoang. Ai bận yêu cứ yêu và ai muốn hát cứ hát. Yêu và say với đời. Và, họ gọi đó là mùa Xuân.
Trăng đã rụng bên lưng chừng dốc
Mà mùi hương vẫn quyện ấm nồng
Có tiếng hát từ tâm dâng hiến
Và ta gọi đó là mùa xuân.
*
Mãi nhiều năm sau, cho đến tận bây giờ, ở cơ quan cũ của Đạt, người ta không còn nhắc đến anh vì họ còn mải cãi nhau chí tử về những kì cuộc, về những chuyện tủn mủn vặt vãnh vô nghĩa của trần gian. Họ vẫn còn dối nhau trong từng lời nói, từng ánh mắt, từng nụ hôn và cả trong khi đang ân ái.