Triều Nguyễn trong quan hệ với láng giềng

08:29 11/11/2024

Năm 1838, vua Minh Mạng cho đổi quốc hiệu là Đại Nam, với ý nghĩa nước Nam lớn mạnh. Đằng sau danh xưng đầy kiêu hãnh và tự hào đó, triều Nguyễn đã có chiến lược ngoại giao đáng chú ý nào đối với láng giềng?

Chuyện đổi quốc hiệu

Vua triều Nguyễn cho sự thể bang giao là một việc quan trọng. Sách Đại Nam thực lục chép, năm Gia Long thứ nhất (1802), vua lấy Tham tri Bộ Binh Lê Quang Định làm Thượng thư Bộ Binh, sung Chánh sứ sang nước Thanh… Vua hạ lệnh cho Quang Định đem quốc thư và phẩm vật (2 cân kỳ nam, 2 cặp ngà voi, 4 tòa sừng tê, 100 cân trầm hương, 200 cân tốc hương và trừu, the, vải đều 200 tấm) đi xin phong và xin đổi quốc hiệu làm Nam Việt. Vua Thanh cho rằng chữ Nam Việt giống chữ Đông Tây Việt nên không muốn cho. Vua Gia Long hai, ba lần phục thư để biện giải, lại nói nếu vua Thanh không cho thì không chịu phong. Vua Thanh sợ mất lòng nước ta, mới dùng chữ Việt Nam để đặt tên nước. Đến đây vua Thanh sai Bố Sâm đem cáo sắc và quốc ấn đến phong (1804).

Chánh sứ triều Nguyễn

Nhưng đến năm 1838, không cần thông qua nhà Thanh, vua Minh Mạng đã quyết định đổi tên nước từ Việt Nam thành Đại Nam với ý nghĩa nước Nam lớn mạnh. Từ đây, mọi xưng hô, văn bản, ngay cả các văn bản ngoại giao cũng đều phải theo đó tuân hành.

Vẻ vang quốc thể

Cổ nhân đúc kết: “Trị hay loạn ở tướng văn, thắng hay bại ở tướng võ, vinh hay nhục ở sứ thần”. Nói đến sự nghiệp ngoại giao của triều Nguyễn trong quan hệ với Trung Quốc, không thể không nhắc đến vai trò của các sứ thần với tư cách là những nhà ngoại giao trực tiếp thực hiện sứ mệnh cao cả mà đất nước giao phó “toàn quân mệnh, tráng quốc uy” (làm tròn mệnh vua, vẻ vang quốc thể).

Lãnh thổ Việt Nam dưới triều Minh Mạng (Nguồn: Võ Hương An)

Về việc chọn người đi sứ, vua Minh Mạng cho rằng: “Đi sứ phải chọn người tài đức”, trong đó khả năng ứng đối là yếu tố rất quan trọng: “Các ngươi ứng đối không được kiêu căng cho người ngoài ghét. Không được nói hèn khuất cho người ngoài khinh. Việc đi sứ, cốt sao lời lẽ cho khéo mà thôi”. Nhà vua nhấn mạnh: “Việc đi sứ không ví như việc tầm thường đi lại để giao hiếu khác, sắc cho văn võ thuộc các nha sáu bộ, ai có thể lĩnh sứ mạng cho tự tiến lên”.

Sau đó, với những người dâng biểu xin đi, vua sai đình thần sát hạch. Văn bản của đình thần ban Văn năm Tự Đức 23 (1870) về việc cử người đi sứ Thanh viết: “Chúng thần vâng mệnh hội đồng tuyển chọn ba viên quan làm sứ thần đều là người có học thức uyên thâm”.

Các sứ thần, bên cạnh sứ mệnh ngoại giao, còn có nhiệm vụ tìm hiểu về con người, phong vật nước Thanh. Vua Minh Mạng cho rằng bản nhật ký về việc đi sứ chỉ ghi tên đất và số dặm đường, còn tình hình dân và công việc nước, không đề cập đến là chưa đạt yêu cầu. Các sứ thần cần phải hỏi han dân tình được sung sướng hay bị đau khổ, trong nước có tai biến hay có điềm lành, ghi chép rõ ràng, còn tên đất và số dặm đường đã có sách chép, có thể khảo cứu được, không cần đề cập nữa.

Năm Tự Đức 2 (1849), các viên đã đi sứ nước Thanh là Bùi Quỹ, Vương Hữu Quang và Nguyễn Du đệ trình quốc thư mời sứ nước Thanh đến Kinh đô nước ta làm lễ bang giao. Vừa mới nhận được quốc thư, họ đã đồng ý ngay. Công lao này của sứ bộ đã được nhà vua ghi nhận: “Bọn họ đem mệnh nước đã thực hiện công việc xuất sắc dẫn đến thành công, thật đáng khen thưởng, nên cần ban ơn. Gia ơn truyền thưởng cho Chánh sứ Bùi Quỹ 3 tấm lụa sa mầu. Phó sứ thứ nhất là Vương Hữu Quang và Phó sứ thứ hai là Nguyễn Du cũng thưởng mỗi người 2 tấm lụa sa mầu. Ba viên trên đều thưởng thêm cho mỗi người 1 cấp. Những người tùy tùng đều có công lao, vất vả nên thưởng chung 200 quan tiền, giao cho bọn Bùi Quỹ phân hạng chia cấp”.

Sứ bộ nước ta từ nước Thanh trở về, Bộ Binh cho các tỉnh đạo tiếp giáp nhau trên đường điều binh trạm dân phu đến các nơi địa đầu đợi đón đoàn sứ bộ và khiêng hàng hóa để sớm về kinh, lại sẽ tư cho tỉnh Lạng theo lệ chuẩn bị đầy đủ phẩm vật để tặng quan viên nước Thanh.

Họa đồ hành trình đi sứ Trung Hoa thời Minh Mạng (Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia I)

Đại lễ bang giao

Đại lễ bang giao tiếp sứ bộ thường được tổ chức trước điện Thái Hòa. “Việc có liên quan đến điển lệ lớn, người xa trông vào” và “sự đưa đón giao tế có điều không được chu đáo thì sự việc tuy nhỏ cũng liên quan đến quốc thể rất lớn” - điều này được khẳng định trong nhiều văn bản hành chính của triều đình - Châu bản triều Nguyễn (hiện được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I).

Trong một văn bản năm Tự Đức thứ 2 (1849), Giám sát Ngự sử đạo Bình Phú tâu về việc đón tiếp sứ bộ nước Thanh. Văn bản nhấn mạnh: “Nay sứ kỳ đã đến gần, việc khoản tiếp trên đường đi cũng nhiều”, “sự đưa đón giao tế nếu có điều không được chu đáo thì sự việc tuy nhỏ cũng liên quan đến quốc thể rất lớn”. Vì vậy, “từ nay về sau hễ thấy sứ nước Thanh đến, việc đưa đón nhất thiết phải hợp nghi thức, tuân theo nghị bàn của bộ để làm cho ổn thỏa, cốt phải chu đáo. Đến khi họ trở về càng nên ân cần chu đáo gấp bội, khiến cho cảm động lòng người, cũng không nên biểu hiện chút gì lười biếng, để tỏ đạo nghĩa cao đẹp”.

Một Châu bản triều Tự Đức còn cho hậu thế biết thêm thông tin phong phú, cụ thể về hoạt động tiếp sứ: Ba bài thơ Hoàng đế Tự Đức làm đề vào chiếc quạt tặng quan Đề đốc nhà Thanh Phùng Tử Tài được giao cho đình thần ban Văn xem lại cẩn thận, xem có vấn đề gì quan ngại không thì lập tức phúc trình đợi phê chuẩn trước khi gửi đi.

Bản tâu năm Minh Mạng thứ 8 (1827) cho biết Quốc vương Cao Miên bày tỏ lòng biết ơn khi được nước ta chẩn cấp cứu đói do mùa màng thất bát. (Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia)

Với các tiểu quốc phía Tây Nam nước ta

Châu bản triều Nguyễn ghi chép lại không ít lần quốc vương các nước phía Tây Nam nước ta như Cao Miên, Vạn Tượng, Nam Chưởng, Thủy Xá, Hỏa Xá… tạ ơn triều Nguyễn đã cứu đói khi họ gặp thiên tai hay trợ giúp họ bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ và nền độc lập.

Châu bản năm Minh Mạng 8 (1827) cho biết Quốc vương Cao Miên tạ ơn nước ta: “Nay căn cứ theo báo cáo của quan thống chế bảo hộ Cao Miên quốc ấn Nguyễn Văn Thụy và công văn của Quốc vương Cao Miên, những năm gần đây, mùa màng thất bát, vào thu lại gặp nạn nước to, quân dân nước này phần nhiều bị thiếu đói… Nay quốc vương đem gộp hai khoản chẩn cấp làm sớ bày tỏ lời cảm ơn, mang đến thành mong chúng thần đề đạt thay”.

Một Châu bản tâu báo về tình hình Vạn Tượng cho chúng ta thấy rõ hơn vai trò của cường quốc Đại Nam: Quốc vương nước Vạn Tượng từ sau ngày đến Tam Động, từng sai người về Thành dò biết quân Xiêm chừng hơn ngàn người đã đóng quân ở trong thành, nhân dân tan tác khắp nơi, mong nhà vua trở về thành, nếu không thì sẽ bị nước Xiêm lấy mất. Quốc vương ấy vội đem sự việc chuyển trình, mong Hoàng thượng ta phái quân đến bảo hộ, khiến cho nước ấy hàng năm sắm lễ cống nạp, mãi làm dân vùng biên, khỏi bị quân Xiêm quấy nhiễu. Văn bản năm Minh Mạng thứ 8.

Nhận được cầu khẩn, vua Minh Mạng đã lệnh cho Trần Lợi Trinh sung làm Tham tán quân vụ đại thần đến trấn đó sắp đặt việc biên giới. Nhờ đó, tình hình ở biên giới đã dần dần đi vào ổn định. Nội dung này được đề cập trong Chiếu thăng cấp cho Thượng thư Trần Lợi Trinh vì đã có công. Văn bản ngày 18 tháng 12 năm Minh Mạng 8 (1827).

Bản tâu của Bộ Binh ngày 23 tháng 5 năm Minh Mạng 21 (1840) về quan hệ giữa nước ta và Cao Miên viết: “Nguyên nước Cao Miên từ lâu đã nội thuộc (nước ta) hơn 100 năm nay. Đến thời Thế Tổ Cao Hoàng Đế, nước ấy phụng sự kính cẩn, nên được gia phong trọng hậu như dân trong nước. Khoảng năm Gia Long, nước ấy bị quân Xiêm xâm lược chiếm cứ Nam Vang, cố quốc vương ấy tự bỏ nước mình, một mình chạy đến thành Gia Định, nước Cao Miên không còn là sở hữu của quốc vương ấy nữa. Trẫm vâng theo mệnh lệnh của vua cha ta Thế Tổ Cao Hoàng đế đem quân đi đánh đuổi quân Xiêm khôi phục nước đó.

Chuyện nhận cống nạp

Các nước Cao Miên, Vạn Tượng, Nam Chưởng, Thủy Xá, Hỏa Xá… thường sai sứ sang triều cống vua triều Nguyễn và được nhà vua ban thưởng. Sách Đại Nam thực lục chép, Năm Gia Long thứ 10 (1811), nước Vạn Tượng sai sứ đến cống, lại đưa trả về hơn ba chục người lính trốn. Vua bảo Nguyễn Văn Thành và Phạm Như Đăng rằng: “Vạn Tượng đã nộp lễ cống hằng năm, lại trả lính trốn về, đủ thấy lòng thành thực. Nên nhân đấy ban chiếu khen ngợi để cho yên lòng… Thế là Vạn Tượng là nước phên giậu miền thượng đạo của ta đấy”.

Văn bản năm Thiệu Trị 4 (1844) chuẩn định cho hai nước Thủy Xá, Hỏa Xá ba năm cống nạp một lần.

Ngoài ra, ở giữa các tiểu quốc và dãy Trường Sơn là các cộng đồng người đương thời được nhà Nguyễn gọi là “man”. Các “man” này ban đầu tự trị và chịu lệ cống nạp, nhưng về sau, dưới sự đe dọa của quân Xiêm, họ tự nguyện sáp nhập vào lãnh thổ Việt Nam. Vua Minh Mạng cho đặt thành phủ, huyện và đặt quan cai trị.

Một văn bản triều Thiệu Trị chép: Hoàng thượng buổi đầu nối nghiệp nên ban phát ân trạch, gia ơn miễn thuế cho các địa phương, trong đó có đoạn: “Các phủ Cam Lộ thuộc tỉnh Quảng Trị, Trấn Man thuộc tỉnh Thanh Hóa và bốn phủ thuộc tỉnh Nghệ An là Trấn Ninh, Trấn Định, Trấn Tĩnh, Trấn Biên cùng hai huyện mới lệ thuộc phủ Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh làm Cam Môn, Cam Cát, thổ dân của các phủ huyện đó đã lệ thuộc sổ tịch của triều đình từ lâu”.

Trong quan hệ với Trung Quốc, dù bề ngoài triều Nguyễn tỏ ra thần phục nhưng luôn âm thầm tìm cách thoát khỏi ảnh hưởng của cường quốc phương Bắc. Trong khi đó, đối với các tiểu quốc Tây Nam, triều Nguyễn lại luôn đóng vai trò là chỗ dựa vững chắc, sẵn sàng đưa tay cứu giúp mỗi khi họ gặp hiểm nguy, thể hiện tinh thần trách nhiệm đối với các nước láng giềng.

Hồng Nhung

Nhằm đáp ứng nhu cầu đi lại của hành khách trong dịp nghỉ Lễ Giỗ tổ Hùng Vương và dịp nghỉ lễ 30/4-1/5, từ ngày 24/4-3/5, ngành Đường sắt tổ chức tăng cường chạy thêm hàng loạt các tuyến tàu. Tính đến sáng 7/4, ngành Đường sắt đã bán được hơn 44.200 vé tàu phục vụ hành khách đi lại dịp nghỉ lễ.

Thứ trưởng Đặng Hồng Đức đề nghị Công an các đơn vị, địa phương cần nỗ lực, cố gắng, quyết tâm, quyết liệt, tăng tốc hơn nữa để đẩy nhanh tiến độ, triển khai các dự án và giải ngân các nguồn vốn, kinh phí năm 2026 được giao theo đúng mục tiêu, yêu cầu đề ra.

Để hợp thức hóa nguồn gốc lợn, các đối tượng đã cấp giấy chứng nhận kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật không đúng quy trình, quy định, tự đặt ra quy định, lợn dưới 80kg thì không cho vận chuyển vào bên trong lò mổ để thu tiền trái quy định từ 250 nghìn đồng/chuyến xe đến 4 triệu đồng/chuyến xe; đồng thời yêu cầu một số chủ lò mổ phải nộp từ 5 triệu đồng/tháng đến 10 triệu đồng/tháng để không bị gây khó dễ khi thực hiện giết mổ tại lò mổ; tổng số tiền các đối tượng đã thu được khoảng 2,5 tỷ đồng.

Thông tin tại cuộc họp báo chiều 6/4, Công an TP Hà Nội cho biết, Cơ quan điều tra đang tiếp tục rà soát gần 1.300 hồ sơ giám định tâm thần có dấu hiệu nghi vấn trên toàn quốc. Đến nay, đã làm rõ nhiều trường hợp kết luận giám định sai lệch không khách quan, giúp đưa các đối tượng phạm tội thực sự về đúng vị trí để xử lý theo pháp luật; thu hồi hơn 10 tỷ đồng tiền mặt, gần 60.000 USD cùng nhiều bất động sản…

Chiều 6/4, thông tin về vụ án lợi dụng vỏ bọc điều trị tâm thần tại Viện pháp y tâm thần Trung ương, Công an TP Hà Nội cho biết, mở rộng điều tra vụ án xảy ra tại Viện Pháp y tâm thần Trung ương và một số địa phương, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hà Nội đã khởi tố thêm 26 bị can. Cơ quan CSĐT Công an TP Hà Nội đã bắt giữ 25 đối tượng về các hành vi “Mua bán, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; làm rõ vật chứng gần 100kg ma túy tổng hợp các loại.

Mỹ và Iran đã tiếp nhận một khung kế hoạch nhằm chấm dứt tình trạng thù địch kéo dài nhiều tuần qua, song bất đồng lớn vẫn tồn tại khi Tehran từ chối ngay lập tức mở lại eo biển Hormuz, trong bối cảnh Tổng thống Donald Trump gia tăng sức ép bằng các cảnh báo quân sự cứng rắn.

©2004. Bản quyền thuộc về Báo Công An Nhân Dân.
®Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Báo Công An Nhân Dân.
English | 中文