Hãy lắng nghe “Tiếng thu”

14:30 09/10/2006

Khi tự mình đọc “Tiếng thu” lên để nghe hai màu vàng đạp lên nhau trong tâm tưởng, mới thấy cái tuyệt đỉnh của thơ mà không một sự thêm vào nào làm nó mới được hơn nữa, hay hơn được nữa, quyến rũ hơn được nữa.

Như một phút chợt dừng trong trường tình phiêu lưu của Lưu Trọng Lư, “Tiếng thu” dội lên âm thanh day dứt của một thời bơ vơ xa xưa. Và còn vọng mãi đến bao giờ?

Em không nghe mùa thu

Dưới trăng mờ thổn thức?

Em không nghe rạo rực

Hình ảnh người chinh phu

Trong lòng người cô phụ?

Em không nghe rừng thu

Lá thu kêu xào xạc

Con nai vàng ngơ ngác

Đạp trên lá vàng khô.

Bằng hình thức kết cấu cú pháp: Điệp ngữ phủ định và câu hỏi tu từ, bài thơ “Tiếng thu” đã được Lưu Trọng Lư thể hiện tới toàn bích trong hơi thở thấm đẫm của văn học lãng mạn thời Thơ Mới.

Nhà thơ Nguyễn Vỹ từng viết: “Lưu Trọng Lư bước vào làng thơ Việt Nam, gót chân lơ đễnh, cặp mắt ngơ ngác, nụ cười xa vắng, tay cầm một quyển truyện mỏng của anh vừa in xong, nhan đề “Người Sơn Nhân”. Một quyển truyện? Thật ra, không hẳn là một quyển truyện. Nhan đề Người Sơn Nhân cũng không hẳn là sơn nhân. Có thể gọi đó là một bài thơ cũng được. Và có thể đổi nhan đề là “Người thi nhân” cũng được. Lưu Trọng Lư đâu có biết Lưu Trọng Lư là thi sĩ. Lưu Trọng Lư cũng không biết Lưu Trọng Lư là Lưu Trọng Lư… Dễ thương làm sao?”

Còn nhà phê bình Hoài Thanh trong “Thi nhân Việt Nam” thì viết: “Ở đời này, ít có người lơ đãng hơn. Thi sĩ đời nay họ khôn lắm, có khi ranh nữa. Và yêu thơ, thường ta chẳng nên biết người. Thiệt thòi cho họ và thiệt thòi ngay cho mình. Nhưng yêu thơ Lư mà quen Lư thì vô hại, vì đời Lư cũng là một bài thơ. Nếu quả như người ta vẫn nói, thi sĩ là một kẻ ngơ ngơ ngác ngác chân bước chập chững trên đường đời, thì có lẽ Lư thi sĩ hơn ai hết”.

Có lẽ thế nên khi viết riêng về “Tiếng thu”, mặc dù có ý rằng Lưu Trọng Lư ảnh hưởng một bài thơ Nhật Bản, Nguyễn Vỹ vẫn cứ cho rằng thơ Lưu Trọng Lư đậm đặc chất thi sĩ hơn và vì thế có ý ở trên sự tả hơn bài thơ tả cảnh của nhà thơ Sarumaru từ thế kỷ VIII của Nhật Bản.

Ông viết: “Lưu Trọng Lư là một ảnh tượng lơ lửng trong thời gian. Mảnh tim của anh bay vời vợi trên khung xanh như con diều giấy, dính vào trần gian bằng một sợi tơ mỏng manh, chập chờn trong gió, vi vu trong mây. Cho nên thơ của Lưu Trọng Lư cũng phảng phất một hơi thu, một nắng hè dịu mát, một khói lam chiều, một thuyền mơ phiêu dạt, một hơi tiêu man mác, một tiếng bước của con nai vàng xào xạc trên lá vàng khô…”.

Ta thấy điều khác nhau ấy thật rõ ràng khi điệp ngữ phủ định “Em không nghe” được sử dụng làm mô-típ chính để phát triển toàn bộ cảm xúc của tác giả. Hai lần “Em không nghe” ở khổ đầu và khổ tiếp theo với các hình ảnh “trăng mờ”, “chinh phu”, “cô phụ” đã gợi ra không khí quạnh vắng cổ điển của “Chinh phụ ngâm”. Tự nhiên làm ta nhớ đến câu thơ “Mặt chinh phu trăng dọi dọi soi”. Tiếng thu ở đây được phát hiện như tiếng thở khẽ của nỗi cô đơn. Câu hỏi tu từ đã được tác giả sử dụng để gợi ý, định hướng độc giả lắng nghe về phía cô đơn ấy mà tác giả không trực tiếp trả lời.

Từ một ánh trăng mờ đầy ấn tượng thổn thức đến nỗi mong nhớ chồng rạo rực của người đàn bà cô độc trong căn phòng mang một màu ẩm tối, lần “Em không nghe” cuối cùng mới hướng độc giả tới nỗi bơ vơ cùng cực. Ở khổ kết này, sau phương thức chuyển nghĩa nhân cách hóa ở câu thứ hai: “Lá thu kêu xào xạc”, nỗi bơ vơ được chiếc lá mùa thu kêu lên như người, thì sự nhân cách hóa này làm sao có được ở bài thơ cổ Nhật Bản nói trên.

Chính tư tưởng của nhà thơ thời Thơ Mới đã khiến cho Lưu Trọng Lư tìm ra chữ “kêu” xuất thần đẩy bài thơ đến tầm cao, vươn tới toàn mỹ. Hai câu thơ cuối được hình thành chuyển nghĩa bằng định ngữ “vàng”. Hai màu vàng đạp lên nhau:

Con nai vàng ngơ ngác

Đạp lên lá vàng khô?

đã tạo ra một không gian cô đơn vô bờ bến. Đấy là bước làm mới bất ngờ từ sự tả cảnh ở bài thơ cổ kia:

Con nai vàng ngơ ngác

Đạp lên lá bàng khô

Hai chất màu: “Vàng ngơ ngác” rồi đến “vàng khô” xiết lên nhau, khiến ta nhớ đến Nguyễn Gia Thiều với: “Trải vách quế gió vàng hiu hắt” và Nguyễn Du với: “Giếng vàng đã rụng một vài lá ngô”. Điều đó đã đẩy tâm trạng độc giả tới sự đồng cảm sâu sắc với tâm hồn của tác giả. Một lối chuyển nghĩa độc đáo khiến tiếng thu thấm sâu vào ta. Tiếng thu, tiếng của nỗi cô đơn, bơ vơ của con người thời không phương hướng trong cảnh nước mất nhà tan còn ẩn dấu một dự báo về sự “cùng tắc biến” của xã hội ta thời ấy. Một dự báo về một thời chiến chinh như những thuở xưa. Hãy lắng nghe tiếng thu mà thấy.

Nhờ chất nhạc mạnh mẽ trong bài thơ, “Tiếng thu” được khá nhiều nhạc sĩ của các thế hệ khác nhau phổ nhạc. Thời tiền chiến thì có Võ Đức Thu, Lê Thương. Thời bây giờ thì có Phan Huỳnh Điểu, Hữu Xuân và Hoàng Phúc Thắng. Nghe “Tiếng thu” được hát lên cũng thấy nao nao xúc động. Nhưng thú thực, khi tự mình đọc “Tiếng thu” lên để nghe hai màu vàng đạp lên nhau trong tâm tưởng, mới thấy cái tuyệt đỉnh của thơ mà không một sự thêm vào nào làm nó mới được hơn nữa, hay hơn được nữa, quyến rũ hơn được nữa. Quyến rũ như mùa thu

Nguyễn Thuỵ Kha

Ngoại trưởng Iran Abbas Araghchi mới đây đã bác khả năng tồn tại các cuộc tiếp xúc với Mỹ. Tuyên bố này ngược lại với phía Nhà Trắng khi Thư ký báo chí Karoline Leavitt cho biết lực lượng Mỹ đã tiến rất gần tới việc hoàn tất các mục tiêu cốt lõi của chiến dịch quân sự nhằm vào Iran, đồng thời nhấn mạnh các cuộc tiếp xúc với Tehran vẫn đang diễn ra theo hướng hiệu quả. 

Chiều 25/3, tại Hà Nội, Bộ Công an tổ chức họp Ban Tổ chức các hoạt động kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống lực lượng Tham mưu CAND (18/4/1946 – 18/4/2026). Trung tướng Đặng Hồng Đức, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Công an, Trưởng Ban Tổ chức các hoạt động kỷ niệm chủ trì buổi họp.

Theo quan niệm của người xưa, vũ trụ có 3 nhân tố cơ bản là Thiên - Địa - Nhân (tức là trời, đất và người). Như trong “Tam tự kinh” có câu “Tam tài giả: Thiên - Địa - Nhân/ Tam quang giả: Nhật - Nguyệt - Tinh”... Trải qua các giai đoạn phát triển của lịch sử, cũng như nhiều quốc gia, dân tộc, Việt Nam hình thành nên truyền thống sống hòa hợp với thiên nhiên (thuận thiên) và luôn coi trọng con người (dân vi bản). Chính vì vậy, chăm lo giáo dục, đào tạo con người là nhiệm vụ xuyên suốt (vì lợi ích trăm năm trồng người)...

Trở lại vụ việc hơn 1 triệu m³ cát tại Thủy điện Đakrông 4 (Báo CAND ngày 23/3/2026 đã có bài viết phản ánh), từ những dấu hiệu bất thường đã được ghi nhận ban đầu, PV Báo CAND tiếp tục xác minh, đối chiếu hồ sơ và làm việc với các cơ quan liên quan và phát hiện thêm nhiều điều lạ thường khó hiểu.

Nguyễn Lê Tú, sinh viên năm thứ hai ngành Vật lý kỹ thuật, Đại học Bách khoa Hà Nội nhận giấy khen, quà động viên từ đại diện nhà trường sau khi hỗ trợ cứu người mắc kẹt trong căn nhà cháy tại Hà Nội vào chiều tối ngày 24/3.

Ngày 25/3, Công an TP Hà Nội cho biết, Cơ quan CSĐT Công an TP Hà Nội đã hoàn thành bản kết luận điều tra, chuyển hồ sơ sang Viện KSND TP Hà Nội đề nghị truy tố 3 đối tượng về hành vi “Mua bán trái phép chất ma tuý” và “vận chuyển trái phép chất ma tuý”.

Tọa đàm “Trí tuệ nhân tạo (AI) và báo chí” do Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) phối hợp cùng các Đại sứ quán Canada, Na Uy, New Zealand và Thụy Sĩ tổ chức chiều 25/3 tại Hà Nội, đã đặt ra một vấn đề cốt lõi rằng trong bối cảnh AI bùng nổ, niềm tin của công chúng trở thành nền tảng sống còn với báo chí. Các nhà báo và chuyên gia nhấn mạnh, AI cần được sử dụng như công cụ hỗ trợ, trong khi quyền kiểm soát và trách nhiệm biên tập phải luôn thuộc về con người.

Bến khách Đại Lộ (xã Hồng Vân, Hà Nội) ngày 25/3, Phòng CSGT Công an TP Hà Nội triển khai mô hình điểm “Bến khách ba nhất: An toàn – văn minh – thông suốt” với mục tiêu tăng cường hiệu quả công tác quản lý an toàn đường thủy nội địa, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật và an toàn giao thông cho người dân.

©2004. Bản quyền thuộc về Báo Công An Nhân Dân.
®Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Báo Công An Nhân Dân.
English | 中文