Con mối và cái tổ kỳ lạ...
Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.
Ví như “Sự tích loài mối”, kể có một chàng trẻ tuổi nhà giàu, chỉ muốn lấy vợ đẹp như tiên. Khi bố mẹ qua đời mà vẫn chưa lấy được ai là “tiên”. Chuyện đến tai Ngọc Hoàng, ngài liền sai một nàng tiên... Giả dạng cô gái nhan sắc tầm thường nhưng tháo vát, “nàng tiên” đến xin làm thị tỳ cho chàng trai nọ. Từ khi có nàng, cơm canh ngon hơn, nhà cửa sạch sẽ, ngăn nắp hơn. Đã có ý khen người giúp việc, có “công” (công việc) tốt, nhưng nghĩ đến “dung” (sắc đẹp), ông chủ lại thôi ngay ý định…
Hôm ấy nhân ông chủ đi tìm vợ, nàng ở nhà hóa thành một người xinh đẹp tuyệt trần. Khi trở về, bao sửng sốt, ngỡ ngàng… Hiểu chuyện, chàng trai rồi rối rít xin lấy nàng làm vợ. Nhưng “tiên” xin chào tạm biệt, rồi bay về trời. Tiếc đứt ruột, chàng hóa thành con mối suốt ngày chắt lưỡi tiếc, tiếc, tiếc quá... Câu chuyện là bài học: phải biết mình là ai, đừng kén chọn quá, có khi hạnh phúc ở ngay bên cạnh mà không chịu hiểu, không biết giữ, để rồi “bay” mất.
Lại có truyện “Con mối làm chứng”, kể lão nhà giàu tới nhà nọ đòi nợ, chỉ gặp đứa bé. Hỏi bố mẹ, nó nói, bố đi “nhổ cây sống trồng cây chết”, mẹ đi “bán gió mua que”. Không hiểu, lão gạ giải thích sẽ trừ hết nợ. Em đòi vật chứng. Lão chỉ con mối đang đậu trên bậu cửa. Em mới giải thích, bố đi cấy, là “nhổ cây sống, trồng cây chết”; mẹ đi bán quạt mua tre, là “bán gió mua que”. Ngẩn người, lão ra về. Hôm sau, lão lại đến đòi.
Việc đưa lên quan. Em bé kể lại đầu đuôi câu chuyện. Quan hỏi nhân chứng. Em bé nói có con mối đang leo cột nhà. Nghe thế, lão nhà giàu vội cướp lời cãi: con mối đậu bậu cửa, chứ không phải leo cột nhà. Quan liền phán, thế là chuyện hứa trừ nợ có thật. Lão cứng họng tiu nghỉu, vì thua trí một đứa trẻ. Ca ngợi em bé thông minh, nhưng cũng bật ra bài học: kẻ tráo trở thường để “tòi” ra bản chất sự thật.
Truyện ngụ ngôn “Con mối và con kiến” có tính giáo dục cao, đã được đưa vào giảng dạy chương trình phổ thông. Kể về con mối lười biếng, có hại, quen đục khoét tủ hòm, sống trong bóng tối, đã thế lại thường hay tự phụ “Chúng ta đây chẳng hề khó nhọc/ Mà ồ ề béo trục béo tròn/ Nhà cao cửa rộng tủ hòm thiếu đâu”. Đối lập với loài mối là hình ảnh những chú kiến chăm chỉ, ngày đêm làm việc tích trữ lương thực cho đàn cho tổ. Truyện gửi gắm bài học về giá trị của lao động, bổn phận và trách nhiệm của mỗi công dân với cộng đồng. Mối biểu hiện cho lối sống ỷ lại, hưởng thụ, ích kỷ; kiến tượng trưng cho sự siêng năng, có trách nhiệm, giàu lòng tự trọng.
Là loài côn trùng có lịch sử tồn tại hơn 200 triệu năm, với hơn 2.700 loài được biết đến, mối sống theo bầy đàn, các cá thể đảm nhận nhiệm vụ khác nhau trong tổ có khi cao tới hơn 10m, rộng 15m. Tổ mối được làm bằng đất trộn với nước bọt, có tác dụng như cái điều hòa nhiệt độ (ở khoảng 31 độ C). Bí quyết nằm ở hệ thống lỗ thông gió phía dưới tổ giúp tránh nóng và thông khí.
Tại rừng Miombom (Congo - châu Phi), người ta tìm thấy một gò mối bỏ hoang hơn 2.200 tuổi. Mối châu Phi có ích cho đất đai. Nhờ chúng đào bới đã vô tình tạo ra những rãnh nhỏ, qua đó bổ sung dưỡng chất cho cây trồng phát triển, bằng việc làm tăng lượng khí nitơ trong đất. Người nông dân đặt những thanh gỗ mục trên mặt đất nhằm thu hút loài mối, trồng chuối gần những tổ mối, trồng những loại rau quả bên trên tổ mối…
Vì sao voi châu Phi, thậm chí có cả phụ nữ thai nghén thích ăn đất tổ mối? Theo khoa học, ngoài đặc trưng là đất sét, bùn, cát mịn cùng chất hữu cơ, đất mối giàu dinh dưỡng, đặc biệt là có canxi, magiê, kali, natri và phốt pho. Voi hay người ăn là để thêm muối. Thế nên, đất này làm phân bón rất tốt cho cây trồng. Nó còn được sử dụng như một loại thạch cao làm cho các bức tường nhà bền và mịn hơn.
Nông dân vùng nam Zambia còn lấy đất từ các tổ mối hoang để xây nhà, làm lò nung, nồi nấu ăn (nồi đất). Các gò mối cũ được thợ rèn sử dụng để chiết xuất các khoáng chất như sắt. Ở nhiều nơi, người ta tìm bắt mối chúa làm thức ăn dinh dưỡng, rất tốt cho phụ nữ ốm hay trẻ em suy dinh dưỡng. Cá biệt có vùng, khi ai đó được ăn mối chúa, người đó phải ở đẳng cấp cao hoặc được tôn trọng.
Cả ở văn hóa châu Phi, châu Á, không phải là con mối, mà là ụ mối, tổ mối, gò mối mới là hình ảnh ấn tượng trong tôn giáo, tín ngưỡng, tâm linh. Hình như có một mối liên hệ nào đó giữa gò mối với tổ tiên, ma quỷ, linh hồn, phù thủy… Nhiều nơi trẻ em được dạy phải cung kính cúi chào gò mối. Có vùng ở châu Phi (cộng đồng người Azande), mỗi gia đình đều có quyền sở hữu vĩnh viễn đối với các gò mối, ngay cả khi di chuyển đến nơi mới, quyền này vẫn giữ nguyên. Do vậy, gò mối thường là nơi dùng làm hầm mộ hoặc để đặt chiếc bình đựng linh hồn tổ tiên.
Ở vùng núi phía Bắc nước ta, cũng có nơi có quan niệm tương tự. Lại có nhiều nơi xuất hiện ụ mối to hình Phật, hoặc người ta đẽo gọt cho giống hình Phật, thế là thu hút bao người hiếu kỳ… Gạt bỏ lớp mê tín bề ngoài, cho thấy một nét tín ngưỡng ẩn sâu: tổ mối mang tính tâm linh. Ở Campuchia, hành vi đập cây gậy vào tổ mối để cầu mưa. Theo một giải thích, trong tín ngưỡng cổ xưa, có thể nguồn gốc từ Ấn Độ, có một mối liên hệ giữa tổ mối với “vật chất nguyên thủy” (materia prima).
Có một nét tâm linh trong nhiều truyền thuyết của ta hay kể, người nào đó tài năng, có công lao, hoặc chết oan được mối nhanh chóng đùn lên thành mộ. Mộ đó sẽ rất thiêng. Con cháu người đó sẽ được phù hộ độ trì ăn nên làm ra, công thành danh toại... Mộ nhà ai “kết” (kết mối, còn gọi là “mộ mối”), thì giữ nguyên thờ phụng. Nếu phá đi, con cháu sẽ bại hoại.
Theo tâm linh, có ngôi mộ kết mối, là nhờ nơi đó tích tụ được một nguồn năng lượng tâm linh rất lớn, khiến phần mộ có hiện tượng trương nở ra. Thế nào là mộ kết mối? Trên mộ đó cây cỏ mọc tốt, xanh tươi, đất nở ra, khiến mộ to hơn ban đầu. Bẻ một nhánh cây để khô rồi cắm vào đất mối, nếu lá xanh trở lại, là đúng. Phải chăng từ điều này mà “phái sinh” ra thành ngữ: “Mồ cha không khóc lại khóc đống mối”, có ý chế bai sự ngộ nhận, nhầm lẫn. Dạy ta mọi việc phải cân nhắc, xem xét, tính toán kỹ, kẻo dẫn đến sự vô duyên, thậm chí có hại.
Theo gợi ý của “Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới” (Nxb Đà Nẵng 2002) có nói tới quan niệm cổ xưa về tổ mối trong văn hóa Ấn Độ, chúng tôi tìm vào Kinh Phật, được đọc “Kinh Gò Mối” (Vammika sutta) rất đáng suy ngẫm.
Nhà Phật lấy ngụ ngôn này làm bài học truyền giáo, “xiển dương” đạo hạnh. Kể rằng một vị Thiên tôn với hào quang rực rỡ đến bảo một Tôn giả: “Tỷ-kheo, Tỷ-kheo! Gò mối này ban đêm phun khói, ban ngày chiếu sáng”. Người nói tiếp: “Này kẻ trí, hãy cầm gươm và đào lên…”. Lần lượt đào các thứ: cái then cửa, con nhái, con đường hai ngả, đồ lọc sữa, con rùa, con dao phay, miếng thịt, và con rắn hổ.
Giảng rằng: Gò mối là biểu tượng cho thân xác con người không thể tránh khỏi sự vô thường, biến hoại. “Khói ban đêm và ánh sáng ban ngày” là ẩn dụ cho những suy tư, suy nghĩ ban đêm và hành động ban ngày. Cây gươm ẩn dụ cho trí tuệ của bậc Thánh, là công cụ để loại bỏ vô minh, tham ái. Các hình ảnh “then cửa, con nhái, con đường hai ngả, đồ lọc sữa, con rùa, con dao phay, miếng thịt, con rắn hổ” là “từng bước mô tả quá trình tu tập và loại bỏ những chướng ngại, từ vô minh, phẫn nộ, nghi ngờ,…” để đến cuối cùng là sự diệt trừ mọi tham, sân, si.
Đó là bài học về sự vô thường và tầm quan trọng của việc tu tập trí tuệ và đạo đức, để đạt đến sự giải thoát. Đấy cũng là cuộc hành trình nội tâm đầy thử thách loại bỏ những phiền não, vươn đến sự thanh tịnh và giác ngộ. Không thể hiểu hết thâm ý, căn cứ vào nội dung lời giảng, cũng cho thấy một hình dung gò mối phải thật to, mới có thể “chứa” được những hình ảnh ẩn dụ trên. Phải chăng lời Kinh hé mở một bí mật nào đó nằm trong “gò mối”? Lại có thể hiểu gò mối là một mã văn hoá bao bọc nhiều lớp nghĩa, muốn hiểu phải công phu bóc từng lớp để đi đến nghĩa cuối cùng…!?