Nhà thơ Bằng Việt - người giữ lửa thi ca
Có những nhà thơ xuất hiện như một cơn bão rồi vội lắng xuống. Lại có những người thơ bước vào văn đàn nhẹ nhàng nhưng ở lại lâu bền, trở thành một phần ký ức thân thuộc của bao thế hệ.
Bằng Việt gợi lên hình ảnh một ngọn lửa ấm, âm ỉ tỏa sáng và sưởi ấm những khoảng trời ký ức trong tâm hồn người Việt. Hành trình hơn nửa thế kỷ cầm bút của ông là hành trình của một trí thức tài hoa, một nhà quản lý tận tụy và trên hết, là một thi sĩ luôn đau đáu với câu hỏi về sứ mệnh của thơ ca.
“Một bếp lửa ấp iu nồng đượm”
Sinh năm 1941 tại Huế nhưng quê gốc ở Chàng Sơn, Thạch Thất (Hà Nội), Bằng Việt (tên thật là Nguyễn Việt Bằng) sớm mang trong mình sự giao thoa giữa vẻ đẹp hào hoa của đất kinh kỳ và sự mộc mạc, sâu nặng nghĩa tình của vùng quê Bắc Bộ.
Xa quê học Luật tại Đại học Tổng hợp Kiev (Liên Xô cũ), nỗi nhớ thương gia đình, quê hương, đặc biệt là hình ảnh người bà tần tảo, đã thôi thúc chàng sinh viên 22 tuổi viết nên những vần thơ đầu đời đầy xúc động. Bài thơ "Bếp lửa" ra đời năm 1963, trở thành một tác phẩm in sâu vào tâm trí bao thế hệ: "Một bếp lửa chờn vờn sương sớm/ Một bếp lửa ấp iu nồng đượm/ Cháu thương bà biết mấy nắng mưa!".
Chất thơ Bằng Việt từ buổi đầu đã định hình: lắng đọng, chân thành, lấy tình cảm gia đình, quê hương sâu nặng làm nền tảng. Năm 1968, tập thơ đầu tay "Hương cây - Bếp lửa" in chung với Lưu Quang Vũ ra đời, trở thành một hiện tượng văn học. Tập thơ như một luồng gió mới, tươi tắn, hào hoa và giàu suy tưởng.
Tốt nghiệp luật về nước, nhưng năm 1970, ông tình nguyện ra chiến trường, làm phóng viên mặt trận tại tuyến lửa Bình Trị Thiên, gắn bó với Đoàn 559 - Trường Sơn. Những năm tháng ấy cho ông vốn sống để viết nên những tập thơ, ký sự như "Đường Trường Sơn, cảnh và người". Thơ ông thời kỳ này vẫn giữ chất trữ tình sâu lắng, nhưng đã hòa quyện thêm khí thế thời đại.
Sau ngày thống nhất, Bằng Việt trở về với công tác quản lý văn hóa. Ông lần lượt đảm nhiệm nhiều vị trí quan trọng: Tổng Thư ký Hội Văn học Nghệ thuật Hà Nội, Tổng biên tập Báo Người Hà Nội, Phó chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam...
Ở cương vị nào, ông cũng được đánh giá là người tận tâm, có tầm nhìn. Dù hoạt động trên nhiều lĩnh vực, vị trí quan trọng nhưng không làm mờ đi tâm hồn thi sĩ. Ngược lại, những trải nghiệm xã hội phong phú đã giúp tâm hồn ông "phong phú, mở rộng nhận thức, thông thoáng hơn và có nhiều đề tài để viết".
Trăn trở đổi mới thi ca
Nếu thời kỳ đầu, thơ Bằng Việt nổi bật với vẻ đẹp lãng mạn, hào hoa, thì bước sang thời kỳ Đổi mới, giọng thơ của ông trầm tĩnh, sâu sắc và giàu chiêm nghiệm hơn. Sau năm 1986, ông cho ra mắt những tập thơ: "Phía nửa mặt trăng chìm" (1995),"Ném câu thơ vào gió"(2001), "Nheo mắt nhìn thế giới" (2008), và tuyển tập"Thơ Bằng Việt" 1986-2016 (2020).
Ở đây, chúng ta gặp một Bằng Việt suy tư nhiều hơn về thân phận, sự vô thường, những nghịch lý của cuộc sống thời hậu chiến. Ông viết về nỗi mệt mỏi của người trí thức: "Những nhà thơ mau chóng già đi/ Trước việc kiếm ăn vo tròn đều đặn". Ông day dứt trước sự "tạm bợ": "Cái bàn gỗ tạp, cái ghế long chân/ Ý nghĩ và việc làm đều vá víu...". Nhưng trên hết, ông trăn trở về sự đổi mới thơ ca.
Với Bằng Việt, đổi mới phải là sự đổi mới thực chất từ cách nhìn hiện thực và phải hướng tới đời sống xã hội. Ông phê phán lối thơ "buông tuồng", "rỗng tuếch" chỉ chạy theo hình thức lạ mà thiếu trách nhiệm. Thơ, với ông, phải "đạt đến tri kỷ", giữ được "cái hồn cốt thẳm sâu đáy lòng người".
Sự trăn trở ấy được đúc kết trong bài thơ "Lại nghĩ về thơ", với những câu hỏi day dứt: "Thơ có còn tri kỷ nữa hay không/ Đời đột biến mà thơ đi quá chậm/ Đời hết sức thẳng thừng. Thơ vòng vèo, lẩn thẩn...". Và ông cũng thẳng thắn nhìn nhận tính hữu hạn của thơ ca: "Thơ hay - có cần phải chết?". Theo ông, thơ hay có ích vào lúc nó sinh ra, khiến người ta thuộc, nhớ vì họ cần đến nó lúc ấy. Làm xong nhiệm vụ, nó có thể "ra đi", không nhất thiết phải bất tử. Đó là một quan niệm khiêm nhường, thực tế và cũng đầy trách nhiệm của một người làm nghề.
Ở khúc cuối nguồn, thơ Bằng Việt trở nên trong vắt, sâu lắng và tập trung một cách đầy chủ ý. Những tâm sự về tập thơ mới sắp xuất bản hé lộ sự quyết liệt của chủ nghĩa tối giản. Ông chủ động "lược bỏ tối đa", không còn "miêu tả và giải thích nhiều". Mỗi bài thơ giờ được rèn giũa thành một tuyên ngôn ngắn gọn, hàm súc, chỉ tập trung vào một ý chính duy nhất. Triết lý trở thành những "ý tưởng minh triết, thực dụng, dễ tiếp nhận".
Quan niệm của ông cũng chuyển dịch. Mỗi bài thơ la â"một chiêm nghiệm, một chia sẻ cần giao lưu với bạn đọc". Và cứu cánh là sự "Ngộ" - khoảnh khắc bừng sáng khi trải qua "Tâm" và "Nghiệm" để tìm thấy một chân lý cho riêng mình.
Điều đáng nói là quyết định tự chuyển ngữ thơ mình ra bốn thứ tiếng. Ông muốn thơ "thật ngắn, thật hàm súc" để phù hợp với nhịp điệu tiếp nhận mới, nhưng vượt lên trên hình thức, đây là tuyên ngôn về khát vọng đối thoại xuyên biên giới, muốn đưa tinh thần Việt ra thế giới.
Ở tuổi ngoài tám mươi, Bằng Việt vẫn mang một tinh thần tiên phong. Bằng Việt còn là một dịch giả tài hoa, có công lớn trong việc chuyển ngữ tinh túy thơ ca thế giới (Hy Lạp, Chile, Pháp, đặc biệt là Nga) đến bạn đọc Việt Nam. Bản dịch bài "Mùa lá rụng" của Olga Berggoltz qua ngòi bút ông đã trở nên quen thuộc.
Ông cũng có tình yêu sâu đậm và đóng góp thiết thực cho Hà Nội. Ông là đồng chủ biên "Con người và nếp sống Hà Nội", chủ biên các bộ tuyển "Thơ Thăng Long - Hà Nội 1000 năm", "Tản văn xứ Đoài"..., biên khảo "Kẻ sĩ Thăng Long" và hoàn thành công trình "Kinh đô Rồng"... của cố nhà văn Nguyễn Khắc Phục.
Bạn bè luôn nhớ về Bằng Việt với hình ảnh một người bạn chân tình, độ lượng. Mối tình bạn nghệ thuật đẹp đẽ với Lưu Quang Vũ là minh chứng. Hai người gắn bó từ thuở hàn vi, in chung tập "Hương cây - Bếp lửa". Ở tuổi ngoài 80, Bằng Việt vẫn khiến mọi người ngạc nhiên bởi sức trẻ, sự minh mẫn. Hạnh phúc gia đình muộn màng như tiếp thêm năng lượng, niềm vui sống cho ông.
Trên chặng đường sáng tác, ông đã gặt hái được nhiều vinh quang: Giải thưởng Thơ của Hội Văn nghệ Hà Nội (1968), Giải thưởng Thơ của Hội Nhà văn Việt Nam (2002), Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật (2001). Các giải thưởng quốc tế gồm: Giải thưởng của Quỹ Hòa bình Liên Xô (1982), Giải thưởng Văn học ASEAN (2003).
Thay lời kết
Bằng Việt được trao tặng Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Ba, Huân chương Lao động hạng Nhất, danh hiệu "Công dân Thủ đô ưu tú". Nhưng có lẽ, phần thưởng lớn nhất là tình cảm yêu mến của bạn đọc qua nhiều thế hệ. Ông là nhịp cầu nối giữa hai thế kỷ, giữa truyền thống và hiện đại. Tiếng thơ Bằng Việt vẫn vang lên với phong thái riêng: điềm tĩnh, sâu lắng, trí tuệ và đầy trách nhiệm. Từ những vần thơ dạt dào ban đầu đến sự tối giản và khát vọng quốc tế hóa ở tuổi xế chiều, Bằng Việt đã hoàn thiện một hành trình nghệ thuật trọn vẹn.
Ông là nhịp cầu nối giữa hai thế kỷ, giữa thơ ca thời chiến và thời bình, giữa truyền thống và hiện đại. Trong dòng chảy đa dạng, nhiều khi xô bồ của thơ ca đương đại, tiếng thơ Bằng Việt vẫn vang lên với một phong thái riêng: điềm tĩnh, sâu lắng, trí tuệ và đầy trách nhiệm.
Ông không ngừng đổi mới, nhưng sự đổi mới ấy bắt nguồn từ nội tâm, từ góc nhìn mới về hiện thực, chứ không phải từ những trò chơi ngôn từ phù phiếm. Từ những vần thơ dạt dào thuở ban đầu đến sự tối giản, hàm súc và khát vọng quốc tế hóa ở tuổi xế chiều, Bằng Việt đã hoàn thiện một hành trình nghệ thuật trọn vẹn: một hành trình không ngừng tìm kiếm bản chất của thơ ca và ý nghĩa của đời sống.
Ông giữ cho mình ngọn lửa của tình yêu gia đình, quê hương, của trách nhiệm và sự trong sáng của thi ca. Như chính ông đã viết: "Nay lại ném câu thơ vào gió thổi/ Tin, không tin... vẫn còn lại riêng mình/ Còn lại tấm lòng mong manh dễ vỡ/ Cát đã ra lò, nay hóa thủy tinh". Tấm lòng ấy vẫn ấm áp, sắc sảo và trong vắt như thủy tinh, tiếp tục tỏa sáng. Bằng Việt mãi là ngọn"Bếp lửa" âm ỉ, bền bỉ, thắp lên niềm tin về sự trường tồn của những giá trị nhân văn.