Văn Cao - người mở đường cho trường ca hiện đại

20:39 09/01/2026

Trong lịch sử văn học Việt Nam thế kỷ XX, Văn Cao (1923-1995) là một trường hợp nghệ sĩ hiếm hoi đạt tới tầm vóc toàn diện và tiên phong trên nhiều lĩnh vực: âm nhạc, hội họa và thi ca. Nếu trong âm nhạc ông là người đặt nền móng cho ca khúc hiện đại Việt Nam với "Tiến quân ca", "Trường ca sông Lô", thì trong thơ, "Những người trên cửa biển" (1956) chính là tác phẩm đánh dấu bước đột phá lớn nhất của ông vào hình thức trường ca thơ tự do hiện đại.

Nhà thơ, nhạc sĩ Văn Cao.

Ra đời vào thời điểm lịch sử, trong không khí xây dựng hòa bình với nhiều khó khăn, xung đột, trường ca này không chỉ phản ánh một giai đoạn lịch sử của Hải Phòng và miền Bắc, mà còn là tuyên ngôn nghệ thuật của một cái tôi sáng tạo không chấp nhận giản lược hiện thực và con người, và sau đó đã được nhìn nhận như một trong những trường ca hiện đại quan trọng nhất của văn học Việt Nam đương đại.

Một cột mốc của thi pháp trường ca

Trong tiến trình văn học Việt Nam thế kỷ XX, trường ca là một thể loại vừa giàu tiềm năng vừa nhiều thách thức. Không ít tác phẩm trường ca từng rơi vào lối viết minh họa lịch sử, đơn tuyến cảm hứng, hoặc bị chi phối bởi yêu cầu thời sự trước mắt. Chính trong bối cảnh ấy, "Những người trên cửa biển" của Văn Cao nổi lên như một trường hợp đặc biệt: một trường ca sớm vượt khỏi quỹ đạo sử thi truyền thống để tiếp cận tư duy hiện đại về con người, lịch sử và nghệ thuật.

Ra đời năm 1956, "Những người trên cửa biển" của Văn Cao là một trường ca có chân dung đặc biệt trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại. Không chỉ phản ánh chân thực và dữ dội một giai đoạn lịch sử nhiều biến động của thành phố Hải Phòng và miền Bắc, tác phẩm còn đánh dấu một bước chuyển quan trọng trong tư duy nghệ thuật về trường ca: từ mô hình sử thi - minh họa sang cấu trúc mở, đa thanh, giàu chiều sâu nhân bản.

Trong di sản thi ca của Văn Cao, "Những người trên cửa biển" là tác phẩm có vị trí đặc biệt, không chỉ bởi quy mô và độ phức hợp nghệ thuật, mà còn bởi số phận lịch sử nhiều thăng trầm. Viết năm 1956, trường ca này từng xuất hiện rải rác trên các Báo Văn nghệ, và nhiều thập niên sau mới được nhìn nhận đầy đủ giá trị. Đọc lại hôm nay, có thể khẳng định: "Những người trên cửa biển" là một trong những tác phẩm sớm nhất và tiêu biểu nhất đã mở đường cho tư duy trường ca hiện đại trong văn học Việt Nam.

Trong trường ca này, thành phố Hải Phòng là không gian lịch sử của thân phận con người. Không lựa chọn lối viết ngợi ca mang tính minh họa, Văn Cao dựng lên Hải Phòng như một không gian lịch sử nhiều tầng, nơi hiện thực đời sống, ký ức cá nhân và vận động xã hội đan xen chặt chẽ. Hải Phòng hiện ra trước hết là thành phố cửa biển, nơi tiếp nhận những dòng người tứ xứ, những phận người bị xô dạt khỏi làng quê truyền thống để đối diện với đời sống công nghiệp khắc nghiệt.

Một trong những giá trị tư tưởng nổi bật của "Những người trên cửa biển" là cái nhìn không né tránh bi kịch. Văn Cao không làm mờ đi những mất mát mà chiến tranh xâm lược của thực dân đế quốc và áp bức gây ra. Trường ca ghi lại những năm tháng tối tăm của lịch sử với giọng điệu trực diện, nhiều khi nặng nề và đau xót.

Bi kịch ở đây không chỉ là cái chết, mà là sự tước đoạt tuổi trẻ, tình yêu, niềm vui sống, là những tổn thương tinh thần kéo dài trong ký ức con người với những câu thơ mở đầu trường ca: "Sinh tôi ra đã có Hải Phòng/ Đầu nhà mới trồng cây mận/ Bãi Sú bồi thành bến/ Nhà máy xi măng đã dựng bên sông/ Tôi nghe tiếng hát mẹ chiều ru võng/ Những ca dao của đồng lúa quê hương/ Những dáng cò lặn lội/ Những cánh cò bồng bế tôi đi/ Những bóng cò trắng như giấc mộng/ Đưa võng đời tôi những buổi chiều dĩ vãng/ Sáng trưa u ú còi tầm/ Đêm dài nghe mưa dầm dãi/ Tôi không có quê hương".

Tuy nhiên, tác phẩm không dừng lại ở việc mô tả nỗi đau. Điều đáng chú ý là Văn Cao không nhìn con người như những nạn nhân bất lực của lịch sử. Ngược lại, xuyên suốt trường ca là quá trình con người ý thức dần về sức mạnh của mình, từ chỗ bị động đến chỗ trở thành chủ thể hành động. Niềm tin trong tác phẩm không mang tính áp đặt hay khẩu hiệu, mà hình thành từ trải nghiệm sống, từ lao động, đấu tranh và đoàn kết.

Chính sự kết hợp giữa bi kịch lịch sử và niềm tin nhân bản đã tạo nên chiều sâu tư tưởng cho trường ca. Văn Cao không tô hồng hiện thực, nhưng cũng không tuyệt đối hóa bóng tối. Con người trong "Những người trên cửa biển" hiện lên với đầy đủ giới hạn và khả năng, đau khổ và khát vọng trong một cái nhìn gần với tinh thần nhân văn hiện đại. Một trong những giá trị tư tưởng sâu sắc nhất của trường ca là cái nhìn không né tránh bi kịch. Văn Cao không làm mờ đi những đau khổ của chiến tranh, đói nghèo, áp bức, mất mát:

Ôi Hải Phòng vết thương miền Bắc
Cổ họng chúng ta ngày đêm rỏ máu

Bìa “Tuyển tập thơ Văn Cao”.

Chiến tranh, thực dân, bóc lột, đói rét, bão tố… không được kể lại như những thử thách lãng mạn, mà như những vết cắt trực tiếp lên thân thể con người. Văn Cao viết về người thợ, người đàn bà đứng đợi chồng ngoài biển bão, những xác người trôi về bến, những tuổi trẻ bị tước đoạt, tất cả tạo nên một bi kịch tập thể, nhưng không rơi vào bi lụy.

Trường ca như một cấu trúc mở của lịch sử và ký ức

Về mặt hình thức, "Những người trên cửa biển" là một thử nghiệm táo bạo. Văn Cao không tổ chức trường ca theo lối tự sự tuyến tính hay theo mô hình sử thi truyền thống. Tác phẩm được xây dựng như một cấu trúc mở, nơi các mảnh hiện thực, ký ức, suy tưởng và cảm xúc liên tục đan xen, tạo thành một dòng chảy ý thức lịch sử.

Cái "tôi" trữ tình trong trường ca không đứng tách biệt, mà hòa vào cái "chúng ta" của cộng đồng. Người kể vừa là nhân chứng, vừa là người suy tư, vừa là kẻ tự vấn chính mình. Giọng điệu vì thế mang tính đa thanh, linh hoạt, phản ánh một thế giới đang vận động và chưa ổn định. Thơ tự do của Văn Cao ở đây không đơn thuần là phá bỏ niêm luật, mà là giải phóng nhịp điệu tư duy. Câu thơ có thể kéo dài, dồn nén, mang nhịp thở gấp gáp của lịch sử; cũng có thể lắng xuống, giàu chất trữ tình và suy tưởng. Chính hình thức này cho phép tác phẩm bao quát được hiện thực rộng lớn mà vẫn giữ được chiều sâu nội tâm.

Một điểm đáng chú ý khác của trường ca là cách sử dụng ngôn ngữ. Văn Cao đưa vào thơ những chất liệu đời sống công nghiệp vốn xa lạ với thi ca truyền thống: nhà máy, kho hàng, máy móc, xi măng, dầu mỡ… Tuy nhiên, những yếu tố ấy không làm khô cứng thơ, mà ngược lại, được tổ chức trong một nhịp điệu giàu chất nhạc và hình ảnh. Bên cạnh đó, hệ thống biểu tượng như biển, sóng, chim nhạn, chim yến, hoa phượng, ngọn lửa… được triển khai xuyên suốt, tạo nên một trường liên tưởng rộng. Biển vừa là không gian sinh tồn, vừa là biểu tượng của khát vọng, của tương lai chưa khép lại. Con người đứng trước biển cũng chính là đứng trước lịch sử và trước chính mình.

Đáng lưu ý, "Những người trên cửa biển" không chỉ viết về lao động và đấu tranh, mà còn dành dung lượng đáng kể cho tình yêu, hạnh phúc cá nhân, những rung động đời thường. Điều này giúp tác phẩm vượt ra khỏi khuôn mẫu của một bản anh hùng ca đơn tuyến, để trở thành một trường ca giàu tính nhân bản, nơi con người được nhìn trong toàn bộ đời sống tinh thần của mình.

Có thể nói, "Những người trên cửa biển" là một trong những tác phẩm sớm nhất đặt nền móng cho trường ca hiện đại Việt Nam. Ở đó, trường ca không còn là sự phóng đại hiện thực theo mô thức sử thi cổ điển, mà trở thành không gian tư duy nghệ thuật, nơi lịch sử được nhìn bằng con mắt của con người cá nhân.

"Những người trên cửa biển" không chỉ là trường ca viết về Hải Phòng, mà là một tác phẩm phản ánh sâu sắc thân phận con người Việt Nam trong thế kỷ nhiều biến động. Với tư duy nghệ thuật hiện đại, cấu trúc mở và chiều sâu nhân văn, Văn Cao đã tạo nên một tác phẩm vượt khỏi giới hạn thời đại ra đời của nó. Hơn nửa thế kỷ trôi qua, trường ca ấy vẫn đặt ra những câu hỏi căn bản cho thi ca: làm thế nào để thơ vừa trung thành với sự thật lịch sử, vừa giữ được niềm tin, khát vọng và phẩm giá con người. Chính ở điểm đó, "Những người trên cửa biển" vẫn còn nguyên giá trị gợi mở đối với đời sống thơ Việt Nam đương đại.

Nguyễn Việt Chiến

Cao Bằng – mảnh đất địa đầu Tổ quốc với hơn 333 km đường biên giới giáp Trung Quốc không chỉ là nơi giữ gìn chủ quyền thiêng liêng mà còn là địa bàn có dân cư phân tán, đời sống còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí không đồng đều. Trong bối cảnh đó, việc đưa pháp luật đến với người dân vùng cao, biên giới không chỉ là nhiệm vụ thường xuyên mà đã trở thành “chìa khóa” quan trọng để giữ vững an ninh trật tự từ cơ sở.

Mấy hôm nghỉ lễ, tôi lướt mạng xem năm nay “tình hình thế nào”, câu chuyện “bên này, bên kia” đã có gì khác trước, khi mà đất nước đã qua hơn nửa thế kỷ kể từ ngày Chiến thắng 30/4/1975. Và thật buồn khi những giọng điệu ngược lối, trái đường vẫn tái diễn, những chiêu trò như “tưởng niệm ngày quốc hận”, “hội luận tháng tư đen” tiếp tục được các hội nhóm chống phá ở hải ngoại xoáy lại với các hình thức, tính chất, mức độ khác nhau.

Thời gian qua, Công an các đơn vị, địa phương đã làm tốt công tác phòng ngừa, đấu tranh với  tội phạm, vi phạm pháp luật liên quan đến người dưới 18 tuổi. Trong đó, phòng ngừa, đấu tranh nhóm thanh thiếu niên tụ tập, sử dụng vũ khí, hung khí nguy hiểm giải quyết mâu thuẫn, gây rối trật tự công cộng.

Nhiều người chọn phương án trở lại TP Hồ Chí Minh trước lễ 1 ngày để tránh kẹt xe nên tối 2/5 dòng phương tiện từ các tỉnh đổ dồn về 2 cửa ngõ phía Đông và phía Tây. Một lượng lớn phương tiện được giải tỏa trong đêm, tuy nhiên đến chiều cuối kỳ nghỉ lễ (3/5) giao thông tại các cửa ngõ TP Hồ Chí Minh tiếp tục tăng nhiệt…

Từ nhiều năm nay, Cảnh sát giao thông (CSGT) Công an các tỉnh, thành miền Trung cùng Công an và chính quyền các xã, phường phối hợp ngành đường sắt nỗ lực triển khai nhiều biện pháp tăng cường đảm bảo an toàn giao thông (ATGT) đường sắt trên tuyến. Không chỉ đẩy mạnh tuần tra kiểm soát, tăng cường xử lý vi phạm, lực lượng chức năng còn tập trung xóa bỏ lối đi tự mở, xây dựng hầm chui, thiết lập rào chắn hàng trăm đoạn – tuyến gần khu dân cư, xây dựng các mô hình tuyên truyền… Thế nhưng, tình hình trật tự ATGT đường sắt tại một số địa phương vẫn... "nóng".

Trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đồng bào Công giáo Việt Nam với tinh thần “Sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc”, “tốt đời, đẹp đạo”, “kính Chúa, yêu nước”, đã và đang có nhiều đóng góp tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn an ninh, trật tự (ANTT). Đồng hành cùng những đóng góp ấy là dấu ấn bền bỉ, sâu sắc của lực lượng An ninh nội địa Công an nhân dân (CAND). 

Trong khoảnh khắc khó khăn, gian nan của cuộc sống đời thường, những chiến sĩ Công an tỉnh Sơn La lại lặng lẽ trở thành điểm tựa bình yên cho Nhân dân.

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4 tăng 0,84% so với tháng trước chủ yếu do giá gas trong nước tăng theo giá nhiên liệu thế giới, giá dịch vụ ăn uống ngoài gia đình và vật liệu xây dựng tăng do chi phí nguyên liệu đầu vào, vận chuyển tăng.

Trong dịp nghỉ lễ Giỗ tổ Hùng Vương và 30/4, 1/5 (từ 25/4 – 3/5, bao gồm cả 2 ngày làm việc xen kẽ), Hà Nội đón khoảng 1,35 triệu lượt khách, trong đó, có trên 248 nghìn lượt khách du lịch quốc tế (bao gồm khoảng trên 175 nghìn lượt khách du lịch quốc tế có lưu trú). Khách du lịch nội địa đạt trên 1,1 triệu lượt. Tổng thu từ khách du lịch ước đạt trên 5 nghìn tỷ đồng.

©2004. Bản quyền thuộc về Báo Công An Nhân Dân.
®Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Báo Công An Nhân Dân.
English | 中文