Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực kiểm lâm để giữ rừng
Gần 600 xã có rừng nhưng chưa có Kiểm lâm
Theo số liệu của Cục Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), đến nay, toàn quốc đã hình thành 218 Trạm Kiểm lâm làm nhiệm vụ kiểm soát lâm sản của rừng và kiểm lâm địa bàn và 735 Trạm kiểm lâm địa bàn tạo điều kiện cơ sở vật chất, nơi ăn, ở và làm việc để triển khai xuống xã. Cụ thể, Nghệ An có 33 trạm, Ninh Thuận 6 trạm, Bình Phước 12 trạm, Đắk Nông 12 trạm, TP Hồ Chí Minh 3 trạm, Kon Tum 16 trạm, Bắc Giang 15 trạm, Yên Bái 23 trạm, Bình Dương 9 trạm, Quảng Trị 15 trạm, Thái Nguyên 19 trạm, Tuyên Quang 30 trạm… Một số địa phương phân công Kiểm lâm phụ trách theo từng địa bàn, trực tiếp ăn ở, sinh hoạt tại xã như Sơn La, Điện Biên.
Đến nay, đã đưa 4.419 công chức kiểm lâm địa bàn xã chuyên trách hoặc kiêm nhiệm ở 5.531 xã trong tổng số 6.093 xã có nhiều rừng. Trong đó, 3.027 công chức Kiểm lâm phụ trách địa bàn 1 xã, 802 công chức Kiểm lâm phụ trách địa bàn 2 xã, 590 công chức Kiểm lâm phụ trách địa bàn 3 xã. Tuy nhiên, hiện vẫn còn 562 xã có diện tích rừng từ 200 ha trở lên chưa có kiểm lâm địa bàn.
Phương thức tổ chức Kiểm lâm phụ trách địa bàn xã được bố trí theo 3 phương thức chính. Thứ nhất, Kiểm lâm địa bàn xã được bố trí ở tại các Trạm Kiểm lâm địa bàn (các Trạm này được xây dựng ở xã trung tâm của khu vực và gắn với cửa rừng để theo dõi 3 - 5 xã). Mỗi Trạm thường bố trí 3 - 5 công chức Kiểm lâm địa bàn. Mô hình này tập trung ở các tỉnh mà tình hình chặt phá rừng còn phức tạp, những nơi chính quyền cấp xã chưa có điều kiện bố trí nơi sinh hoạt cho Kiểm lâm địa bàn xã. Các Trạm Kiểm lâm địa bàn kiêm nhiệm thêm cả nhiệm vụ kiểm soát cửa rừng, trong những trường hợp cần thiết có thể huy động lực lượng của cả Trạm để ngăn chặn các hành vi phá rừng. Tuy vậy, mô hình này chưa tạo được sự gắn kết thường xuyên giữa kiểm lâm địa bàn và chính quyền xã.
![]() |
| Lực lượng kiểm lâm cần được kiện toàn, nâng cao chất lượng. |
Thứ hai, ở một số tỉnh như Cà Mau, Kiên Giang, Cao Bằng, Quảng Nam, Điện Biên, Sơn La, Ninh Bình..., Kiểm lâm địa bàn sinh hoạt tại xã, ở nhờ tại nhà dân, trường học, hoặc trụ sở UBND xã để thực hiện nhiệm vụ được phân công. Với mô hình này, kiểm lâm địa bàn thường xuyên làm việc tại xã, gắn kết với chính quyền và người dân. Tuy nhiên, do không có trụ sở làm việc ổn định nên hoạt động còn thiếu nề nếp, nếu không có sự hỗ trợ và giám sát của chính quyền cơ sở thì khó phát huy được hiệu quả, lực lượng phân tán.
Mô hình thứ ba là Kiểm lâm địa bàn sinh hoạt tại Hạt Kiểm lâm huyện, thực hiện đối với Kiểm lâm địa bàn phụ trách các xã gần trụ sở Hạt Kiểm lâm. Kiểm lâm địa bàn xuống xã làm việc theo từng thời điểm nhất định trong tháng hoặc khi có vụ việc, thời gian còn lại thực hiện nhiệm vụ do hạt trưởng phân công. Với phương thức này sự gắn kết giữa Kiểm lâm địa bàn với chính quyền và nhân dân địa phương thiếu chặt chẽ, việc phát hiện và xử lý sự việc xảy ra trên địa bàn không kịp thời.
Kiện toàn đội ngũ, nâng cao hiệu quả bảo vệ rừng
Qua sơ kết 12 năm đưa Kiểm lâm về phụ trách địa bàn xã, Cục Kiểm lâm nhận định, mặc dù còn những hạn chế, tồn tại nhất định, song kết quả đạt được là cơ bản khẳng định việc thực hiện chủ trương đưa Kiểm lâm phụ trách địa bàn xã là chủ trương đúng đắn, kịp thời và đáp ứng yêu cầu công tác bảo vệ rừng.
Từ khi thực hiện chủ trương này, công tác quản lý Nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp ở địa bàn xã được cấp ủy, chính quyền địa phương quan tâm và thực hiện tốt hơn. Các hoạt động về rừng và đất lâm nghiệp đi vào nề nếp và hiệu quả; trách nhiệm của chính quyền cơ sở đối với công tác quản lý bảo vệ rừng ngày càng được phân định cụ thể; nhận thức và việc làm của người dân địa phương đối với công tác quản lý rừng, bảo vệ rừng được nâng cao; tình trạng vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng được hạn chế. Mối quan hệ giữa Kiểm lâm, chủ rừng và chính quyền địa phương ngày càng chặt chẽ; sự tham gia của các lực lượng chức năng thường xuyên và hiệu quả hơn.
Tuy nhiên, so với yêu cầu đề ra, biên chế lực lượng Kiểm lâm còn thiếu, đặc biệt là kiểm lâm phụ trách địa bàn. Theo quy định thì định mức biên chế bình quân toàn quốc là 1.000 ha rừng thì có 1 biên chế Kiểm lâm, và đối với rừng đặc dụng cứ 500 ha có 1 biên chế Kiểm lâm. Tuy nhiên trên thực tế tại nhiều địa phương 1 kiểm lâm địa bàn phải phụ trách hơn 10.000 ha, nhiều nơi chưa bố trí được kiểm lâm địa bàn.
Hiện tại, Chính phủ đã đồng ý tăng thêm 3.000 biên chế cho kiểm lâm giai đoạn từ nay đến năm 2015. Điều cần làm là phải gắn việc tăng biên chế với nâng cao chất lượng đội ngũ kiểm lâm. Dự kiến, sẽ tập trung ưu tiên bố trí đủ cho kiểm lâm phụ trách địa bàn cấp xã, kiểm lâm phòng cháy, chữa cháy rừng và bổ sung biên chế cho đơn vị điều tra xử lý tội phạm về lâm nghiệp. Đồng thời, rà soát, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ công chức, viên chức kiểm lâm đảm bảo phù hợp với nhiệm vụ trong tình hình mới, theo nguyên tắc giảm biên chế khâu gián tiếp để tăng cường lực lượng cho cơ sở và kiểm soát chặt chẽ lâm sản tại nơi chế biến, tiêu thụ. Củng cố tổ chức và lực lượng phòng cháy, chữa cháy rừng chuyên ngành và điều tra xử lý tội phạm về lâm nghiệp, đảm bảo đủ số lượng và tinh nhuệ, hiện đại từ trung ương đến địa phương.
|
Đến nay toàn bộ 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã thành lập Chi cục Kiểm lâm với tổng biên chế của lực lượng kiểm lâm gần 12.000 người, trong đó, gần 50% biên chế có trình độ đại học và trên đại học. |
