Nước mắt... “ông bồ”
Cặp ngà uy dũng, cơ thể to lớn và khỏe nhất rừng xanh nhưng thật đáng buồn, điều đó không thể giúp được các "ông bồ" thoát khỏi mối nguy tuyệt diệt đang đến rất gần... Rừng già bị tàn phá khiến môi trường sống bị thu hẹp, những chiếc bẫy giăng khắp nơi, hàng trăm họng súng chực chờ khạc đạn, lại thêm sự đối xử bạc ác của không ít chủ nhân với các màn vắt sức tàn nhẫn… đấy chính là lý do khiến các "ông bồ"… đổ lệ!
"Ông bồ" là cách gọi về loài voi rừng của người dân vùng rừng núi Mã Đà ở khu vực Chiến khu Đ (huyện Vĩnh Cửu) và khu vực rừng già Cát Tiên (huyện Tân Phú) thuộc địa phận tỉnh Đồng Nai.
Những ngày qua, khi Quỹ quốc tế bảo tồn thiên nhiên (WWF) và Quỹ Bảo tồn quốc tế tê giác (IRF) đưa ra công bố rằng loài tê giác Java một sừng tại Việt Nam đã tuyệt chủng, thì dư luận đặt ra câu hỏi, sau câu chuyện tuyệt diệt của loài "trâu 1 sừng" (cách gọi của người Mạ, S'tiêng ở khu vực Vườn quốc gia Cát Tiên) thì loài nào tiếp bước? Và trong rất nhiều gợi mở đó sẽ là hổ, bò tót, cá sấu Xiêm… hình ảnh "ông bồ" to lớn với cặp ngà kiêu dũng nhưng hiền lành được xoáy sâu. "Sau trâu 1 sừng, có thể voi rừng sẽ nối dài danh sách tuyệt chủng".
Khẳng định ấy không phải của chuyên gia WWF hay của bất kỳ cán bộ, lãnh đạo ngành Kiểm lâm. Đó là bộc bạch, là mối băn khoăn, lo lắng của chính người viết sau những lần trò chuyện, tiếp xúc với những người giữ rừng, đặc biệt là các già làng tại nhiều vùng rừng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Còn có ai hiểu rõ về rừng và muông thú hơn những con người được sinh ra ở rừng, lớn lên giữa rừng và về với ông bà tổ tiên ở nơi đại ngàn hoang thẳm?!
Nếu dành chút ít thời gian để lần giở "bản cáo trạng" về sự tàn lụi giống loài của loài voi, hẳn ai đó sẽ có luận kết như chúng tôi, rằng nếu không được "cấp cứu" hiệu quả, sớm muộn gì loài thú có vú trên cạn to lớn nhất sẽ tiếp bước danh sách tuyệt chủng như loài tê giác. Đơn giản bởi từ quá khứ "kiêu hùng", giai đoạn từ năm 1975-1978, chỉ riêng tỉnh Đắk Lắk, đàn voi rừng có gần 300 con. Nhưng nay theo thống kê của các cơ quan chức năng, số "ông bồ" ở thủ phủ Tây Nguyên chỉ dừng lại ở con số vài chục, chính xác là 52 "ông" và con số này đang sụt giảm từng ngày do voi chết bởi già yếu, bởi họng súng tàn nhẫn của phường săn, bởi bị chủ vắt kiệt sức cho thú vui dạo rừng trên lưng voi của nhiều du khách… Ấy là số lượng voi nhà còn lại ở "vương quốc voi Đắk Lắk".
Tại tỉnh Gia Lai, nơi một thời rạng danh không kém với 2 làng voi Nhơn Hòa và bãi luyện voi cô hầu (huyện An Khê) - nơi vua Quang Trung từng tập kết các thớt voi về huấn luyện, tạo nên đội tương binh dũng mãnh, nay cũng bi đát không kém với dáng voi bị xóa sổ hoàn toàn. Người dân ở làng voi Nhơn Hòa có biệt tài thuần dưỡng, huấn luyện voi rất giỏi. Họ mua voi từ người anh em M'nông ở Đắk Lắk, "nhập khẩu" voi từ Vương quốc Lào… và thuần dưỡng để làm phương tiện đi lại, kéo gỗ. Nhưng rồi theo thời gian, sức voi được thay thế bằng động cơ "khỏe", tiện gấp nhiều lần. Lại thêm voi già yếu voi chết, không nuôi voi được, nhiều chủ voi bán voi… làng voi Nhơn Hòa tuyệt diệt voi vì những lẽ đó.
|
| Voi chết tại Vườn quốc gia Cát Tiên. |
Năm 2004, qua khảo sát các quần thể voi hoang dã ở Việt Nam, tổ chức IUCN xác định còn khoảng 76 - 94 cá thể. 5 năm sau, nghiên cứu của Đại học Tây Nguyên cho thấy số lượng voi rừng nhỉnh hơn, từ 83-110 cá thể. Và ngay tại thời điểm này, thông tin về voi rừng ở Việt Nam cũng chỉ dừng lại ở con số xấp xỉ 100. Và con số này cũng đang hao hụt dần theo những chiếc bẫy răng chó và họng súng luôn trong tư thế khạc đạn khi có cơ hội của cánh phường săn!
Nói về nguy cơ các "ông bồ" sẽ tiếp bước tê giác, nghĩa là nay mai sẽ chỉ còn tồn tại trong ký ức người Việt, hẳn sẽ có nhiều người cho rằng, loài hổ trong tự nhiên chỉ khoảng 30 con (theo số liệu điều tra của ông Nguyễn Mạnh Hà - Trung tâm Nghiên cứu tài nguyên và môi trường Đại học Quốc gia Hà Nội), thì với con số khoảng 100 cá thể ngoài tự nhiên, lẽ ra loài hổ mới tiếp bước bi kịch buồn của loài tê giác chứ không phải voi rừng. Về mặt số liệu, nói như vậy hoàn toàn chính xác nhưng xét về tập tính sinh sản thì… cần phải xem lại. Bởi lẽ trong môi trường nuôi nhốt, hổ dễ dàng sinh con thì loài voi… ngược lại.
Còn nhớ cách đây 2 năm, khi chúng tôi hỏi thăm chuyện "cho voi giao phối" để duy trì nòi giống, dũng sĩ săn voi rừng số 1 Amakông, cho biết voi "yêu" cũng như người, nó chỉ tiến hành việc giao phối khi trải qua một thời gian "tìm hiểu", thích nhau và việc giao phối phải diễn ra ở nơi kín đáo. Nên trong môi trường nuôi nhốt và bị vắt sức phục vụ cho du lịch, việc cho voi đẻ rất khó thành… Điều này lý giải vì sao hàng chục năm qua, đàn voi nhà từng một thời hùng hậu ở Tây Nguyên chỉ cho ra lác đác vài "baby"!
Theo thống kê gần đây nhất, chỉ trong 2 năm qua, cả nước có đến 7 voi nhà và 19 voi rừng bị chết. Voi chết vì già yếu, bị gia chủ vì hám tiền đã ép lao động vất vả nhưng ăn uống kham khổ để rồi chết thảm vì kiệt sức… và vì bị săn bắn bừa bãi để lấy ngà, lấy lông đuôi phục vụ cho những kẻ thích chơi hàng độc. Voi liên tục chết, liên tục bị sụt giảm số lượng trong khi môi trường sống của chúng bị thu hẹp và công tác bảo tồn thì cứ mãi loay hoay do thiếu vốn và thiếu cả sự nhiệt tâm của một số người có trách nhiệm đến chuyện sinh tồn của chúng. Khi mối nguy tuyệt chủng đang đến rất gần, hỏi sao các "ông bồ" lại không… đổ lệ?