Xét xử vụ lật tàu E1: Lái tàu Bùi Thái Sơn phản cung
Trong 2 ngày 26 và 27/4, trả lời thẩm vấn của TAND tỉnh Thừa Thiên - Huế về nguyên nhân xảy ra vụ tai nạn lật tàu E1, bị cáo Bùi Thái Sơn đã trình bày nhiều chi tiết khác với bản cáo trạng của VKSND Thừa Thiên - Huế và bác bỏ một số lời khai trước đó.
Theo bản cáo trạng của VKSND tỉnh Thừa Thiên - Huế: Khi xảy ra vụ TNGT đường sắt nghiêm trọng - tàu E1 D19E909 bị lật tại khu gian Thừa Lưu - Lăng Cô, huyện Phú Lộc, bị cáo Bùi Thái Sơn là lái chính con tàu này. Qua quá trình điều tra vụ án cho thấy, tàu E1 xuất phát từ ga Hà Nội lúc 23h ngày 11/3/2005, hành trình 30 giờ đến ga TP Hồ Chí Minh lúc 5h ngày 13/3/2005 gồm 3 ban lái máy, điều khiển do các lái chính Hoàng Vĩnh Nam, Nguyễn Mạnh Tri, Bùi Thái Sơn và các lái phụ Ngô Diên Hồng, La Văn Lượng và Hà Minh Tâm.
8h3' ngày 12/3/2005, lái chính Bùi Thái Sơn cùng lái phụ Hà Minh Tâm nhận nhiệm vụ điều khiển tàu khách nói trên từ ga Đồng Hới (Quảng Bình) đến ga Đà Nẵng. Khi tàu qua khỏi ga Thừa Lưu (Thừa Thiên - Huế) 10km thì bắt đầu đoạn đường xấu, nguy hiểm, có đường hầm và nhiều đường dân sinh tự phát ngang qua đường tàu (không có gác chắn)…
Theo quy định của ngành Đường sắt, tại đoạn đường này, tàu khách phải giảm tốc độ từ 80km/h xuống còn 50- 55km/h. Tuy nhiên, Bùi Thái Sơn đã điều khiển tàu từ 55-60km/h, do tâm lý tàu bị chậm trước đó tại ga Thừa Lưu 9 phút. Sau khi tàu chạy thêm một quãng đường (từ km 745+00 đến 754+250), Bùi Thái Sơn và Hà Minh Tâm phát hiện cách đầu máy khoảng 10 cây số có một xe ôtô chạy ngang qua đường dân sinh nên rất hoảng sợ. Đúng lúc đó, tàu khách E1 bắt đầu đi vào khu vực có biển báo 40km/h.
Chưa nói đến biển báo giảm tốc độ, theo quán tính khi gặp "sự cố", các tài xế phải giảm tốc độ, nhưng Bùi Thái Sơn đã điều khiển tàu chạy nhanh hơn, cụ thể là 60km/h. Tiếp đó, khi đi vào đoạn đường gấp khúc, một bên là núi đá, một bên là vực sâu rất nguy hiểm, nhưng tàu vẫn chạy với tốc độ trên 60km/h.
Khi lái phụ Tâm phát hiện thấy đường cong, hô giảm tốc độ, lái chính Bùi Thái Sơn đã không kịp xử lý, và đoàn tàu cứ thế chạy theo quán tính, các toa tàu từ số 3 đến số 10 văng ra khỏi đường ray, va đập vào dãy bờ đá thấp phía đầm nước Lăng Cô; các toa số 7 và 8 đứt rời khỏi đoàn tàu, sau nhiều vòng lăn và va chạm mạnh thì dừng lại trên bờ đầm… Hậu quả, vụ tai nạn đã làm 11 người chết, 86 người bị thương, thiệt hại về tài sản của ngành Đường sắt là 6.245.734.469 đồng…
Kết quả qua các lần khám nghiệm hiện trường, kiểm tra độ an toàn của con tàu và mở hộp đen (đĩa ghi băng tốc độ thu giữ trên đầu máy tàu E1 D19E909) do các ngành chức năng thực hiện cho thấy, thời điểm xảy ra tai nạn, tốc độ của tàu là 69km/h, tương ứng với lý trình km 688+650 đến km 693, vượt từ 2-7km/h so với tốc độ quy định của ngành Đường sắt. Theo kết luận cuối cùng của cơ quan CSĐT Công an Thừa Thiên - Huế, nguyên nhân xảy ra tai nạn tàu E1 là do vi phạm về tốc độ chạy tàu.
Những chuyện đằng sau lời khai
Trả lời thẩm vấn của TAND Thừa Thiên - Huế trong các ngày 26 và 27/4, bị cáo Bùi Thái Sơn trình bày nhiều chi tiết khác với bản cáo trạng của VKSND Thừa Thiên - Huế và bác bỏ một số lời khai trước đó tại Cơ quan CSĐT Công an Thừa Thiên - Huế. Cụ thể, theo bị cáo Sơn, nguyên nhân xảy ra tai nạn là do "sự cố" (không nói rõ sự cố gì?) trước lúc xảy ra tai nạn (thời điểm tàu chạy vào đoạn đường cong), bị cáo Sơn có biết tàu chạy nhanh, nhưng không rõ là tốc độ bao nhiêu… Tuy nhiên, cả 2 bị cáo Sơn và Tâm đều thừa nhận là chưa thực hiện đúng chế độ hô đáp trong quy trình chạy tàu đầu máy diezen…
Ông Bùi Đức Hiệp, Chủ tọa phiên tòa, nhận định: Là tài xế, đặc biệt với trọng trách chở hàng trăm sinh mạng, cả 2 bị cáo không thể không biết tốc độ của đoàn tàu do chính họ điều khiển.
Cũng trong các ngày 26 và 27/4, gần 100 nạn nhân và gia đình của các nạn nhân đã có mặt tại phiên tòa, với mong muốn Tòa án sẽ làm sáng tỏ ai đã "ra lệnh" cho các tài xế chạy tàu nhanh dẫn đến thảm họa đau lòng kể trên. Ngoài ra, những người này cũng chưa bằng lòng với việc đền bù của ngành Đường sắt về những thiệt hại do ngành này gây nên