Xuất khẩu lao động sang Đài Loan: Cần nhất là chất lượng lao động
Với gần 70.000 lao động đang làm việc hợp pháp, Đài Loan đang là một trong những thị trường thu hút nhiều lao động Việt Nam nhất. Tuy nhiên, hiện đang có nhiều vấn đề nảy sinh trong việc xuất khẩu lao động sang thị trường này.
Trong chuyến sang Đài Loan tìm hiểu đời sống người lao động Việt Nam mới đây, phóng viên Báo CAND có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Bá Hải, Trưởng ban Quản lý lao động Việt Nam, về vấn đề này.
- Xin ông cho biết tình hình lao động Việt Nam tại Đài Loan hiện nay?
- Tính đến hết tháng 7/2007, số lao động Việt Nam tại Đài Loan là 69.477 người. Trong số đó có 40.062 làm nghề chăm sóc người bệnh trong bệnh viện và giúp việc gia đình; 28.027 công nhân tại các nhà máy, công xưởng; 760 công nhân xây dựng và 598 thuyền viên, phân bố rải rác tại tất cả các huyện của Đài Loan, nhưng tập trung chủ yếu tại huyện Đào Viên, TP. Đài Bắc, huyện Chương Hoá, huyện Đài Trung... So với tổng số 351.215 lao động nước ngoài tại Đài Loan, lao động của chúng ta chiếm 19,77%.
Về thu nhập, phần lớn lao động của chúng ta đều có mức thu nhập khoảng 20.000 đài tệ/tháng (1 đài tệ = 500 VNĐ); những nhà máy có nhiều giờ làm thêm có thể được 30.000 đài tệ/tháng. Từ 1/7/2007, Đài Loan nâng lương cơ bản cho lao động lên 17.280 đài tệ/tháng, nhưng mới chỉ áp dụng cho công nhân nhà máy và chăm sóc người bệnh trong các bệnh viện.
- Tuy nhiên lao động Việt Nam bỏ trốn ra ngoài làm việc bất hợp pháp ngày càng nhiều. Theo ông vì sao lại có tình trạng này?
- Thống kê đến hết tháng 7/2007, có 12.160 lao động Việt Nam, chiếm tới 48,7% trong tổng số 24.968 lao động nước ngoài (của 5 nước - PV) bỏ trốn. Đây là con số cộng dồn từ năm 1999 tới nay, nhưng là lý do ảnh hưởng tới việc bạn tiếp nhận lao động Việt Nam.
Tôi và anh Cự (Trưởng Văn phòng Kinh tế - Văn hoá Việt Nam tại Đài Loan) đã xuống khảo sát tại Công ty Điện tử Formusa, nơi thường xuyên có khoảng 500 lao động Việt Nam làm việc và hiện đã có 40 lao động bỏ trốn, để tìm hiểu nguyên nhân thì thấy rằng những lao động bỏ trốn đều là những người sắp hết hợp đồng (2 năm) nhưng vi phạm kỷ luật như đánh bạc, đánh nhau nên không được gia hạn.
Chúng tôi đã phân tích và thấy rằng có 3 nguyên nhân chính khiến lao động bỏ trốn, đó là do tranh chấp giữa chủ sử dụng với lao động, tranh chấp về lao động giữa chủ và Công ty môi giới Đài Loan và do sự dụ dỗ, móc nối của những người đã bỏ trốn, cô dâu Việt Nam đưa lao động ra ngoài làm việc.
Những lao động bỏ trốn ra ngoài làm việc bất hợp pháp đời sống rất bấp bênh. Bởi khi chủ sử dụng biết là lao động bỏ trốn có thể mấy tháng đầu họ trả lương cao nhưng sau đó họ sẽ nợ hoặc không trả mà người lao động không dám kiện vì kiện là bị bắt. Mọi chi phí ăn, ở, khám chữa bệnh đều phải tự chi trả, thậm chí bị tai nạn cũng không được bảo hiểm, khi vào viện chữa bệnh, không có tiền trả, người ta lại làm công văn yêu cầu Ban quản lý phải thanh toán.
Năm 2006, chúng tôi đã phải thanh toán cho 16 trường hợp; trong đó có 1 trường hợp một lao động nữ do Công ty Cửu Long đưa sang bỏ trốn ra ngoài khi đến chơi nhà bạn bị ngã chấn thương sọ não phải vào điều trị tại Bệnh viện Cơ Long mấy tháng, chi phí hết tới 700.000 đài tệ, riêng trường hợp này chúng tôi chưa thanh toán vì còn phải chờ chỉ đạo từ Bộ LĐ-TB&XH.
Để chống bỏ trốn, mới đây phía Đài Loan đã ban hành quy định xử phạt lao động bất hợp pháp. Theo đó chủ sử dụng lao động bất hợp pháp sẽ bị phạt tới 750.000 đài tệ; lao động bỏ trốn bị phạt 150.000 đài tệ. Nếu lao động không có, họ sẽ bắt chủ sử dụng nộp; nếu chủ sử dụng không nộp, họ sẽ bắt người môi giới phi pháp nộp; nếu vẫn không được nữa thì bắt nước có lao động bỏ trốn phải nộp phạt. Tuy nhiên hiện nay vẫn đang trong giai đoạn nghiên cứu triển khai chứ chưa thực hiện quy định này.
- Hiện Đài Loan đã mở cửa cho lao động nước ngoài làm việc trong lĩnh vực "3D" (nguy hiểm, bụi bẩn và độc hại), vậy lao động Việt Nam có được thực hiện hợp đồng này không, thưa ông?
- Trước kia, Đài Loan chỉ cho lao động bản xứ làm việc ở lĩnh vực này; nhưng hiện nay do lao động bản xứ không đáp ứng được công việc này nên họ mở cho lao động nước ngoài và đương nhiên có cả lao động Việt Nam. Chúng tôi đã làm văn bản thông báo cho các doanh nghiệp Việt Nam lưu ý lĩnh vực này. Lĩnh vực này không có chỉ tiêu mà các doanh nghiệp cứ chủ động liên hệ với các công ty môi giới; công ty môi giới tìm được thì đưa lại hợp đồng. Con số này hiện nay chưa có báo cáo, nhưng theo tôi được biết là rất nhiều hợp đồng đã triển khai. Mức lương cơ bản cũng như làm trong nhà máy, nhưng có rất nhiều giờ làm thêm.
- Ông đánh giá tiềm năng thị trường Đài Loan với lao động Việt Nam như thế nào?
- Đài Loan vẫn là thị trường nhiều tiềm năng. Mới đây, luật pháp Đài Loan đã cho phép người lao động nước ngoài nếu làm tốt và được chủ sử dụng tiếp nhận lại sẽ được gia hạn 3 lần, nghĩa là thời gian làm việc có thể lên tới 9 năm.
Vì vậy hiện đã có những lao động được gia hạn lần thứ 3. Tính tới hết tháng 8/2007, chúng tôi đã thẩm định được 29.192 lao động (bằng cả năm 2006), trong đó có tới 1.000 trường hợp là hết hợp đồng 3 năm nhưng được chủ sử dụng đồng ý tiếp nhận lại. Sau khi phía Đài Loan ngừng tiếp nhận lao động giúp việc gia đình, chúng tôi đã đề nghị các doanh nghiệp khai thác các hợp đồng công nhân nhà máy và chăm người bệnh tại bệnh viện.
Vì vậy trong số 29.192 lao động thẩm định vừa qua phần lớn là công nhân nhà máy và chăm sóc người bệnh tại bệnh viện. Có thể giữa số được thẩm định và số lao động sang làm việc sẽ có chệnh lệch vì có trường hợp sau khi thẩm định chủ sử dụng lại nhận lao động nước khác, nhưng thị trường hiện còn rất lớn, bởi hiện Đài Loan đang cần tới 351.000 lao động nước ngoài đến làm việc. Tuy nhiên, để cạnh tranh được với các nước khác, điều quan trọng nhất là chúng ta phải nâng cao được chất lượng lao động.
- Xin cảm ơn ông.