“Thay da, đổi thịt” trên quê hương cách mạng Sơn Điền
Trước nhà bia tưởng niệm giữa đại ngàn, nắng gió tháng Tư hun hút thổi qua những tán rừng, đánh thức ký ức một thời lửa đạn. Những cái tên như K’Biền, K’Khối, K’Biều, K’Măng Yệu… khắc sâu vào đá, hóa thành bất tử trong trang sử dân tộc. Từ vùng đất từng thấm máu, quê hương cách mạng Sơn Điền (Lâm Đồng) hôm nay đang vươn mình mạnh mẽ, “thay da đổi thịt” từng ngày.
Về nơi bà con thiểu số làm cách mạng
Sơn Điền là vùng đất nằm giữa trùng điệp núi rừng Lâm Đồng. Nơi đây từng là căn cứ địa cách mạng, là chiếc nôi âm thầm nuôi dưỡng phong trào kháng chiến suốt hai cuộc trường chinh của dân tộc. Trong gian khó, những người con đầu tiên sớm giác ngộ lý tưởng, đi theo cách mạng lại chính là đồng bào Châu Mạ, K’Ho.
Lịch sử xã Sơn Điền cẩn thận ghi lại, từ những năm 1940, giữa bốn bề rừng sâu núi thẳm, nhiều người đã dũng cảm đã đứng lên, đối mặt với súng đạn kẻ thù để bảo vệ buôn làng, dựng nên căn cứ Mang Yệu – Chi Lan, một pháo đài khiến quân địch khiếp sợ. Những đội du kích “lưng trần, chân đất”, chỉ với vài chục khẩu súng thô sơ nhưng mang trong tim ngọn lửa yêu nước cháy bỏng đã làm nên những chiến công vang dội.
Điển hình là đêm 7/4/1954, trong bóng tối đặc quánh của núi rừng, các nhóm du kích cùng lực lượng vũ trang tỉnh bất ngờ tập kích đồn Gia Bát, tiêu diệt 111 tên địch, trong đó có cả sĩ quan người Pháp. Và rồi ở buôn B’Rang, một trận phục kích do chính du kích Sơn Điền tổ chức đã khiến 47 tên địch gục ngã. Sau này, khi nói tới du kích Sơn Điền mưu trí, gan dạ, quân địch thường khiếp sợ, không dám liều lĩnh hành quân đi càn hoặc tiến sâu vào vùng cách mạng.
Những chiến công ấy được viết bằng máu, bằng lòng quả cảm và niềm tin son sắt vào ngày độc lập. Sơn Điền từ đó trở thành biểu tượng của ý chí quật cường, nơi những con người bình dị, chân chất với lòng yêu nước đã làm nên lịch sử phi thường.
Trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ - Ngụy, Sơn Điền tiếp tục là một pháo đài vững chắc giữa đại ngàn. Cán bộ bám dân, dân bám đất, rừng dang tay che chở bộ đội. Những mái nhà đơn sơ nép mình trong rừng sâu lại trở thành hậu phương vững chãi nuôi dưỡng cách mạng. Giữa bom rơi xối xả, giữa những ngày rừng cháy, đất rung vì địch điên cuồng càn quén, đánh phá, đồng bào các dân tộc nơi đây vẫn lặng lẽ chắt chiu từng hạt bắp, bó rau để nuôi dưỡng quân giải phóng. Gần 140 người con Sơn Điền đã rời buôn làng, bước vào cuộc chiến khốc liệt với lời thề giữ nước son sắt.
Với những hy sinh to lớn ấy, năm 1994, xã Sơn Điền đã được Đảng và Nhà nước công nhận là đơn vị Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân.
Cuộc hồi sinh trên mảnh đất anh hùng
Nhưng khi tiếng súng lùi xa, hòa bình trở về, thử thách vẫn chưa dừng lại. Bị bao bọc bởi núi rừng trùng điệp, những con dốc quanh co như níu chân người, Sơn Điền gần như tách biệt với bên ngoài. Hòa bình nhưng cuộc sống của người dân lại bắt đầu từ những nhọc nhằn rất đỗi đời thường. Toàn xã có hơn 95% là người dân tộc thiểu số sinh sống, tập quán du canh, du cư, “chọc lỗ tra hạt” vẫn đeo bám, khiến cái nghèo cứ lặng lẽ phủ bóng lên từng mái nhà. Đất đai hoang hóa, mùa màng bấp bênh, cái ăn, cái mặc luôn thiếu trước hụt sau.
Theo chủ trương của Đảng và Nhà nước, người dân bắt đầu định canh, định cư, học cách trồng lúa nước, phát triển chăn nuôi. Những con đường đất đỏ ngày nào dần được bê tông hóa, nối dài niềm tin khởi sắc đến từng thôn buôn. Điện thắp sáng, trường học vang tiếng trẻ, trạm y tế, nhà văn hóa mọc lên giữa màu xanh núi rừng.
Ngày trở lại hôm nay, Sơn Điền đã khoác lên mình một diện mạo rất khác. Những đồi cà phê trải dài, xanh mướt, những vườn sầu riêng, bơ, mắc ca xen canh trĩu quả, những cánh đồng lúa nước óng vàng theo mùa gió. Tất cả đã làm nên màu xanh no ấm thay thế khói lửa, nghèo khó năm xưa.
Ông K’Mỉnh, Phó Chủ tịch UBND xã Sơn Điền là người chứng kiến từ những ngày gian khó nhất đến khi quê hương “thay da, đổi thịt”. Nếu trước đây bà con chỉ dựa vào kinh nghiệm, thì nay đã biết áp dụng khoa học kỹ thuật, chọn giống, chuyển đổi cây trồng. Cây cà phê nay đã trở thành trụ cột kinh tế. Hơn 2.000 ha cà phê cho năng suất ổn định, mang lại nguồn thu đáng kể.
Người dân Sơn Điền còn mạnh dạn đa dạng hóa sản xuất. Hàng trăm hecta cây ăn trái giá trị cao được đưa vào canh tác. Những mô hình chăn nuôi gia trại phát triển, tạo nguồn thu bền vững. Thu nhập bình quân đầu người của xã Sơn Điền nay đã đạt khoảng 52 triệu đồng/năm.
Câu chuyện của gia đình chị Ka Nháng là một minh chứng sinh động cho sự đổi thay ấy. Từ chỗ chỉ trồng bắp, lúa một vụ, thu nhập bấp bênh, gia đình chị chuyển sang trồng cà phê, học kỹ thuật, trồng xen cây ăn trái. Mỗi năm, gia đình thu hàng chục tấn cà phê, đem lại nguồn lợi cả trăm triệu đồng. Ngôi nhà xây kiên cố đã thay cho mái tranh xưa xiêu vẹo. Hai người con của chị Ka Nháng giờ là sinh viên Trường Đại học Đà Lạt.
“Sợ nhất là mình nghèo mà không biết là nghèo, khổ mà không biết là khổ… Biết nghèo, biết khổ, biết lo vì đói mà sẽ biết suy nghĩ, chịu khó lao động, tu trí làm ăn sẽ thoát nghèo thôi!...”, chị Ka Nháng chia sẻ.
Hơn 85% đường giao thông nông thôn ở xã vùng sâu Sơn Điền đã được nhựa, bê tông hóa. Trụ sở, trường học, trạm y tế khang trang, đáp ứng đầy đủ nhu cầu khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe của nhân dân.
Đặc biệt, theo Phó Chủ tịch UBND xã Sơn Điền K’Mỉnh, tư duy của người dân đã thay đổi, đó mới chính là “cuộc cách mạng” sâu sắc nhất hôm nay. Từ trông chờ, ỷ lại, bà con đã chủ động vươn lên, học hỏi, làm chủ cuộc sống. Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh qua từng năm, niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước trong nhân dân ngày càng vững chắc.
Chiều về ở vùng xa Sơn Điền, nắng vàng rót xuống những triền cà phê, gió đưa hương thơm lừng mùi hoa rừng tháng 4 nở rộ. Trước bia tưởng niệm, những cái tên vẫn lặng im giữ vẹn lời thế với Tổ quốc, non sông. Ngày nay, trên chính mảnh đất anh hùng từng nhuốm màu khói lửa chiếm tranh Sơn Điền, cuộc hồi sinh mạnh mẽ đang diễn ra từng ngày.