Nền tảng tri thức - sức mạnh để những đô thị trỗi dậy từ suy tàn

10:44 26/11/2022

Hơn cả cơ sở hạ tầng vật chất, nguồn nhân lực mới là thứ giải thích thành phố nào sẽ thành công” – trích “Chiến thắng của đô thị”, tác giả Edward Glaeser (Nhóm dịch Book Hunter, Lê Duy Nam hiệu đính, NXB Hội Nhà văn & Book Hunter, tái bản lần I, 2022).

Thu hút nhân tài để phục hồi - lựa chọn lịch sử

Sau loạn 12 sứ quân và những cuộc tranh giành quyền lực ở thời Đinh Lê, Lý Thái Tổ lên ngôi và thực hiện một quyết định quan trọng: Dời đô về Thăng Long. Đây là điều được ca tụng trong nhiều thế kỷ của lịch sử Việt Nam nhưng ít ai hình dung được hoàn cảnh mà Vua Lý Thái Tổ phải đối đầu trong quá trình dời đô về một đô thành đã bị bỏ hoang sau khoảng thời gian biến loạn. Trong suốt giai đoạn thuộc “Đường nghìn năm”, Đại La - tên cũ của Thăng Long, tức trung tâm Hà Nội ngày nay, là trung tâm đô hộ phủ và với vị trí trung tâm này, hẳn nhiên, Đại La thu hút lượng cư dân đông đúc, đa dạng, trung tâm kinh tế - văn hóa – chính trị của Giao Châu.

Từ sau khi gia tộc họ Khúc mất quyền lực (khoảng năm 930), Đại La không còn vị thế trung tâm, mà chuyển dịch về Cổ Loa, Đông Anh (thuộc Hà Nội ngày nay), thậm chí là Hoa Lư, Ninh Bình. Trung tâm dịch chuyển, kèm theo đó là sự đi xuống của số lượng và năng lực của dân cư, dần dần là các cơ sở vật chất. Vua Lý Thái Tổ đã phục hưng Đại La sau gần một trăm năm suy tàn và công cuộc này được thực hiện song song với xây dựng nền móng quốc gia vững chắc.

Hà Nội đầu thế kỷ 20, trích từ tập ảnh "Hà Nội xưa" do tiến sĩ Nguyễn Mạnh Hùng, Hiệu trưởng Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng chủ biên.

Trong những năm trị vì của mình, Vua Lý Thái Tổ đã nỗ lực biến Đại La thành Thăng Long - một đô thị an toàn và phồn vinh, với nền chính trị ổn định, tạo nên lực hút giao thương Bắc - Nam, Đông - Tây.  

Những nền móng mà Vua Lý Thái Tổ gây dựng tương đồng với sự phục hưng Athens của Solon (thế kỷ 6 TCN). Athens trước cải cách của Solon được sử gia Plutarch mô tả là rơi trong cảnh “khốn cùng với món nợ đẫm máu”, “các quan chấp chính bị dân nguyền rủa và căm ghét”, “thành phố bị xâu xé bởi hai bè phái”. (Trích “Sự hưng thịnh và suy tàn của Athens”, NXB Thế giới & Omega+).

Song song hòa giải các bè phái, cải cách tư pháp và đời sống tín ngưỡng, Solon bắt đầu thực hiện chính sách khuyến khích cư dân cải thiện tay nghề thủ công và mở rộng cửa đón những gia đình nhập cư bị rơi vào tình cảnh lưu vong do chiến tranh ở các thành bang khác. Tương tự như Solon của Athens, Vua Lý Thái Tổ cũng song song điều hòa các mâu thuẫn nội tại trong triều đình, đồng thời thực hiện các chính sách thu hút nhân tài, mà cụ thể là tầng lớp sư sãi, vốn là nhóm người có học thức cao, kinh nghiệm lịch duyệt phong phú do được tự do di chuyển truyền đạo và không bị lôi kéo vào các cuộc tranh giành quyền lực trước đó. Do đó, ông thực hiện cải tạo chùa chiền, xây nhà chứa kinh và biến các am tu hành tạm bợ thành các trung tâm Phật giáo ngay tại Thăng Long (theo “Đại Việt sử ký toàn thư”, Ngô Sỹ Liên).

Sự lựa chọn tầng lớp tăng sĩ làm nền tảng của Vua Lý Thái Tổ trên thực tế không hề bị chi phối bởi tín ngưỡng của ông, mà bởi trong suốt giai đoạn Bắc thuộc trước đó, các Nho sĩ người Việt chỉ được đào tạo để thực hiện các công việc hành chính của chính quyền đô hộ, trong khi các thầy tu Phật giáo với truyền thống bảo lưu kinh điển và sẵn sàng học tập tư tưởng từ kinh sách của các phái khác theo chủ trương Tam giáo đồng nguyên, không bị trói buộc  với các nghĩa vụ hành chính như các Nho sĩ, có đủ vị thế và vốn tri thức để đưa ra các cố vấn đa chiều không phải chỉ ở trong triều đình mà còn ở trong cộng đồng dân cư.

Triều đình và chùa chiền, kéo theo đó là những người dân có nhận thức cao hơn và sùng đạo vốn tập trung ở các khu vực gần Thăng Long, (thời bấy giờ, tín ngưỡng dân gian bản địa thuộc về nhóm thường dân và Phật giáo là giáo phái ưa chuộng của tầng lớp quan lại, phú hộ và những người có học), đã thu hút thêm nhiều thợ thủ công giỏi về thành thị và những vùng ven. Bằng cách này, Vua Lý Thái Tổ thực sự đã đặt nền móng cho sự phồn thịnh của Thăng Long kéo dài đến tận ngày nay.

Đi ngược lại với xu hướng này, thời kỳ công nghiệp nửa đầu thế kỷ 20 đã tạo ra nhiều đô thị công nghiệp mà tại đó thu hút những người dân có trình độ thấp để đảm nhận vai trò công nhân trong các nhà máy. Mặc dù phát triển nhanh chóng ở thời kỳ cực thịnh nhưng nó nhanh chóng suy thoái dẫn đến sự sụp đổ của “Vành đai gỉ sắt” tại Mỹ những năm 1950. Có thành phố đến nay vẫn như đống đổ nát và sự phục hồi chậm đến mức không đáng kể, ví dụ như Detroit. New York cũng từng nằm trong số các thành phố suy thoái thời bấy giờ, nhưng giải pháp được đưa ra kịp thời và hợp lý đã biến New York thành con phượng hoàng tài chính hồi sinh từ tro tàn vào những năm 1970.

Không cố đẩy bong bóng bất động sản như Detroit, chính quyền New York thực hiện cải cách hành chính và thuế để thu hút những doanh nhân tới lập nghiệp tại đây. Các công ty tràn đầy hứng khởi với mô hình kinh doanh đòi hỏi trí tuệ hơn đã thu hút nhiều nhân tài hơn và đúng như Edward Glaeser nhận định: “...mọi đô thị thành công đều có một điểm chung. Để phát triển thịnh vượng, các đô thị này cần thu hút những người thông minh và cho phép họ hợp tác với nhau để làm việc. Chẳng bao giờ có một đô thị thành công mà thiếu đi nguồn vốn nhân lực” (trích “Chiến thắng của đô thị”).

Bong bóng bất động sản tại Detroit để lại di chứng đến nay là những tòa nhà bỏ hoang và những người dân nghèo. Ảnh chụp năm 2017. Nguồn ảnh: Independent

Khắp nơi trên thế giới, dẫu phương Đông hay phương Tây, dẫu xa xưa hay hiện đại, cung cấp một nền tảng tri thức để vươn tới phồn thịnh bền vững hơn cho cộng đồng dân cư đã là điều tất yếu, nhưng không phải đô thị nào, quốc gia nào cũng có đủ kiên nhẫn để thực hiện và đặc biệt khó được những quốc gia nghèo, kém phát triển lựa chọn, trong khi thứ họ cần là “tiền tươi thóc thật” trước mắt. Họ quên mất rằng “tiền tươi thóc thật” chỉ là giải pháp ngắn hạn, trong khi nền tảng tri thức mới là giải pháp dài hạn và để thực hiện kế hoạch dài hạn ấy cũng đòi hỏi những nhà lãnh đạo có tầm nhìn.

Nền tảng tri thức không chỉ là sách và trường học

Cũng giống như các đô thị thành công vốn đặt con người làm trọng tâm cho sự phát triển, nền tảng tri thức lệ thuộc vào con người. Con người là chủ thể đồng thời là đối tượng hưởng lợi của nền tảng tri thức, mà trong đó sách và trường học giữ vai trò quan trọng nhưng không phải là tất cả. Sách được viết ra khi con người muốn lưu trữ và truyền tải tri thức, còn trường học là nơi để các thế hệ người truyền trao các đúc rút kinh nghiệm và lý thuyết cho nhau, nhưng cả hai nhân tố này sẽ ở trạng thái chết nếu chúng bị ngắt khỏi sự tương tác với thực tiễn để liên tục bổ sung thông tin và tri thức mới. Sách luôn tĩnh, trường học vận động theo trình tự, còn cuộc sống với môi trường lao động và tương tác thì biến động liên tục không ngừng nghỉ. Cùng với sự phát triển của Internet và giao thương toàn cầu, tốc độ biến động càng nhanh hơn và khó dự đoán hơn, bởi thế, nền tảng tri thức có biên độ rộng lớn hơn, trên thực tế, nó nằm trong mọi khía cạnh của cuộc sống xã hội.

Tính chất xã hội của tri thức ngày càng gia tăng đi kèm với nó là sự lỗi thời nhanh chóng của hệ thống học thuật, một nền tảng tri thức mới đang được hình thành mà tại đó con người “tập trung vào các kiến thức đến từ cá nhân, công ty và trong xã hội nói chung - cũng như cái cách mà những kiến thức đó thay đổi, được truyền bá và đưa vào sử dụng” và “học cách học” được đề cao hơn so với “học kiến thức”. Năng lực học tập từ môi trường làm việc, xã hội và đáp ứng nhanh chóng những gì xã hội cũng như môi trường làm việc cần trở thành tiêu chí tuyển dụng của các thị trường lao động chuyên nghiệp tại phương Tây, nơi bằng cấp học thuật đang dần mất đi ưu thế so với chứng chỉ nghề, khả năng lĩnh hội nhanh chóng và kinh nghiệm thực tiễn (trích “Xây dựng xã hội học tập”, Joseph E.Stigliz & Bruce C.Greenwwald, Đỗ Đức Thọ - Nguyễn Thị Lan Anh - Dương Bá Đoan - Phan Thu Hoài, NXB Chính trị Quốc gia & Omega+).

Dù nhận thức được xu hướng tất yếu này, nhưng chọn điểm bắt đầu để xây dựng nền tảng tri thức mang tính xã hội không hề dễ. Solon chọn những người thợ thủ công, Lý Công Uẩn chọn những tu sĩ Phật giáo, New York chọn những doanh nhân,... còn với bối cảnh Việt Nam hiện nay, chúng ta sẽ chọn nhóm nào để thắp lên ngọn lửa tri thức hay sẽ thúc đẩy đồng đều toàn xã hội, đến nay vẫn là một câu hỏi lớn chưa có lời giải đáp thích hợp!

Hà Thủy Nguyên

Trong bài viết có tựa đề “Ngày hội non sông và trọng trách trước nhân dân”, mà Báo Công an nhân dân vừa trân trọng giới thiệu, Tổng Bí thư Tô Lâm đã phát đi một lời hiệu triệu sâu sắc, thẳng thắn và đầy kỳ vọng gởi tới những người vừa được nhân dân tin tưởng lựa chọn. Trong đó, thông điệp về “sự cam kết và trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu và đội ngũ cán bộ” giữ vị trí như một “từ khóa” cốt lõi. Đó cũng là lời giải cho bài toán củng cố niềm tin của nhân dân trong kỷ nguyên mới...

Tình trạng một số doanh nghiệp khai thác khoáng sản tại Lâm Đồng cố tình che chắn hệ thống camera giám sát, tự ý mở lối đi mới để vận chuyển cát nhằm né tránh kiểm soát của cơ quan chức năng đang diễn ra phức tạp. UBND tỉnh Lâm Đồng đã chỉ đạo quyết liệt, yêu cầu cơ quan chức năng xử lý dứt điểm, thậm chí xem xét tạm dừng hoạt động đối với các đơn vị vi phạm.

Ngày 20/3, tại Trung tâm hội nghị tỉnh Lào Cai, Tỉnh uỷ Lào Cai tổ chức Hội nghị quán triệt, triển khai thực hiện các giải pháp phấn đấu xây dựng 100% xã, phường không ma tuý trong năm 2026 theo chỉ đạo của Đảng uỷ Công an Trung ương, Bộ Công an và Nghị quyết của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Lào Cai.

Mượn danh “viện thẩm mỹ quốc tế”, thuê diễn viên đóng vai bác sĩ, thậm chí cấu kết với công ty tài chính để ép khách hàng sập bẫy nợ... là những thủ đoạn tinh vi của các nhóm đối tượng bị Công an TP Hồ Chí Minh triệt phá. Đằng sau những lời hứa hẹn “mọc tóc thần kỳ” hay “chữa dứt điểm bách bệnh” là những cái bẫy lừa đảo quy mô lớn, chiếm đoạt hàng chục tỷ đồng của người dân.

Ngày 20/3, Cục Hàng hải và Đường thuỷ Việt Nam thông tin, tính tới nay, có 18 tàu thuộc sở hữu doanh nghiệp Việt Nam (trong đó có 6 tàu treo cờ Việt Nam và 12 tàu treo cờ nước ngoài) đang hoạt động tại khu vực Trung Đông, với 10 tàu nằm trong eo biển Hormuz, 4 tàu gần eo biển và 4 tàu nằm ngoài khu vực eo biển Hormuz. Các tàu và thuyền viên vẫn an toàn.

Từ nội dung đơn kiến nghị của một giảng viên về những vi phạm liên quan đến bà Trương Thị Hồng Hải, Viện trưởng Viện Công nghệ sinh học (CNSH), Đại học (ĐH) Huế đã vào cuộc, tổ chức xác minh làm rõ. Ngày 20/3, ĐH Huế cho biết, ông Bùi Văn Lợi, Phó Giám đốc ĐH Huế vừa ký ban hành thông báo kết quả xác minh các nội dung kiến nghị này.

©2004. Bản quyền thuộc về Báo Công An Nhân Dân.
®Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Báo Công An Nhân Dân.
English | 中文