Đồng bào Pa Cô, Vân Kiều bảo tồn và phát huy văn hóa cồng chiêng

07:26 22/04/2024

Cồng chiêng là loại hình văn hóa mang tính đặc trưng vùng miền của đồng bào các dân tộc Pa Cô, Vân Kiều ở miền núi Quảng Trị. Từ xa xưa, cồng chiêng vừa là loại nhạc cụ không thể thiếu trong hầu hết các nghi lễ đối với các vị thần và thờ cúng ông bà tổ tiên trong mỗi gia đình, dòng họ và các dịp lễ hội của cộng đồng, vừa được xem là của cải có giá trị trong đời sống của bà con...

Ngày nay, đồng bào Pa Cô, Vân Kiều giao lưu và hội nhập với xã hội hiện đại, đời sống văn hóa tinh thần ngày càng phong phú. Tuy vậy, việc bảo tồn và phát huy những giá trị đặc sắc của văn hóa cồng chiêng nơi đây vẫn được nhiều cá nhân, gia đình và cộng đồng quan tâm một cách đặc biệt.

Nghệ nhân dân gian Côn Hơm ở xã Tà Rụt, huyện Đakrông (Quảng Trị) hiện đang sở hữu 1 chiếc cồng cùng 6 chiếc chiêng với kích thước khác nhau. Số cồng chiêng này được ông dày công bảo tồn và gìn giữ cùng thời gian. Đó cũng là niềm mơ ước của nhiều người dân trong vùng.

“Số cồng chiêng này đều được bố tôi chắt chiu từng đồng bạc trắng để mua hoặc hoán đổi những con trâu đực rất lớn”, ông chỉ tay vào những chiếc cồng chiêng được giữ gìn cẩn thận bồi hồi nhớ lại: Ngày xưa với cộng đồng người Pa Cô, Vân Kiều giữa Trường Sơn, việc cưới hỏi, dựng vợ gả chồng nhất thiết phải có cồng chiêng dùng làm lễ vật để trao đổi. Phía nhà gái sẽ tặng cho nhà trai những tấm zèng (thổ cẩm) với các loại hoa văn, họa tiết, màu sắc mang dấu ấn của cô dâu. Về phía nhà trai sẽ trao cho cho phía nhà gái nhiều lễ vật, trong đó nhất định phải có cồng và chiêng. Gia đình nào có nhiều con gái phải chuẩn bị nhiều tấm zèng để sau này vừa làm sính lễ, vừa làm của hồi môn cho con gái khi về nhà chồng. Với những gia đình có nhiều con trai cần phải chuẩn bị nhiều cồng chiêng thì mới được gia đình có con gái đồng ý kết tình thông gia.

Đội cồng chiêng chuẩn bị trình diễn điệu dân vũ mừng lúa mới và đón cô dâu về bản trong Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc ở bản Cù Bai, xã Hướng Lập, huyện Hướng Hóa.

Vẫn theo lời nghệ nhân Côn Hơm, trong số tài sản lớn mà ba của ông để lại, có 3 chiếc chiêng chỉ dành để đánh mỗi khi có người trong gia đình, dòng họ và bản làng qua đời, 2 chiếc dùng để đánh mỗi khi đón tiếp khách quý đến thăm và 1 chiếc còn lại chỉ để thờ cúng trên bàn thờ.

Cồng chiêng gắn bó mật thiết với cuộc sống của người Pa Cô, Vân Kiều, thường được bà con sử dụng vào những dịp khác nhau, như tại các lễ hội truyền thống, sự kiện quan trọng của quê hương đất nước, cùng những sự kiện khác như mừng làng mới, cưới hỏi, ma chay. Âm thanh cồng chiêng góp phần gắn kết mối quan hệ cộng đồng, được dùng diễn tả niềm vui, nỗi buồn của con người trong cuộc sống.

Cũng ở xã Tà Rụt, già làng Côn Bắt có nhiều chiếc cồng chiêng có âm thanh vang vọng vào mỗi mùa lễ hội, mỗi dịp gặp gỡ bạn bè. Trong số 4 chiếc chiêng và 3 chiếc cồng có cái ngày xưa bố của ông đã mua với giá gần 2 nén bạc trắng. Ông Côn Bắt rất tự hào về số cồng chiêng mà mình đang sở hữu vì chúng không chỉ mang giá trị vật chất, mà âm thanh của chúng còn là tiếng vọng từ quá khứ giữa Trường Sơn, kết nối quá khứ với hiện tại và tương lại. Cồng chiêng vì thế là nhịp cầu nối nhắc nhở người Pa Cô, Vân Kiều nhớ về tổ tiên nguồn cội, giữ gìn phong tục tập quán từ bao đời.

Già làng Côn Bắt cho hay, cồng chiêng cũng có yếu tố âm dương, cồng tượng trưng cho người phụ nữ, chiêng tượng trưng cho đàn ông. Cồng có thể dùng tay không để đánh, chiêng thường đánh bằng dùi. Chiếc dùi thường được làm từ cây mây, một đầu được bọc vải mềm để tạo âm tiết khác nhau khi đánh.

“Người Pa Cô, Vân Kiều luôn tin vào thế giới thần linh, các vị thần linh ấy đã hiện diện từ rất lâu trong đời sống tâm thức của bà con ở đây. Nhưng con người không thể trực tiếp liên hệ, giao tiếp với các vị thần linh nên cần phải có cồng chiêng nhằm tạo ra âm thanh, nhịp điệu như là một thứ ngôn ngữ để kết nối, để trao đổi với thần linh và tổ tiên cùng những người đã khuất. Đặc biệt, trong đám tang của người Pa Cô, bắt buộc phải có cồng chiêng, nếu không có tiếng cồng tiếng chiêng thì người quá cố sẽ không vui”, già làng Côn Bắt tâm sự thêm.

Ngoài ra, cồng chiêng còn được người Pa Cô, Vân Kiều giữa đại ngàn Trường Sơn Quảng Trị sử dụng như là một loại phương tiện để giao tiếp giữa người với người, giữa cộng đồng này với cộng đồng khác, và nhất là mối quan hệ thông gia. Ngày xưa, khách nhà trai đến nhà gái nhân dịp lễ, tết, ngày giỗ đều phải có tiếng cồng tiếng chiêng. Bởi, nếu thiếu vắng chúng, nhà trai sẽ không vui và cho rằng lễ đón tiếp chưa đầy đủ và trang trọng.

Anh Hồ Văn Ngô, cán bộ văn hóa xã Tà Rụt cho biết, hiện nay cồng chiêng trên địa bàn xã có khoảng hơn 200 chiếc. Trong đó, một số gia đình có nhiều cồng chiêng như gia đình nghệ nhân Kray Sức, nghệ nhân Mai Sen, ông Côn Vắt và nghệ nhân Côn Hưm.

Thực hiện theo dự án số 6 “Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch” thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 1 từ năm 2022 - 2025 trên địa bàn huyện Đakrông, UBND xã Tà Rụt đã phối hợp Sở VH-TT&DL lịch tỉnh, Phòng VH-TT&DL huyện tổ chức các lớp dân ca, dân vũ và đánh cồng chiêng. Theo đó, mỗi năm có ít nhất 40 học viên tham gia học tập, biểu diễn ở nhiều nơi trên địa bàn xã và các địa phương lân cận.

Ông Lê Minh Tuấn, Giám đốc Sở VH-TT&DL tỉnh Quảng Trị cho biết, trong thực tế trước đây từng có một thời gian khá dài do kinh tế khó khăn, một số gia đình Pa Cô, Vân Kiều ở miền núi Quảng Trị thay vì bảo tồn cồng chiêng, họ đã phải bán đi những tài sản này cho người dân ở những nơi khác đến tìm mua. Ngoài ra, có những bộ cồng chiêng vì bảo quản không đúng cách dẫn đến bị mất âm, sai âm nên không có khả năng sử dụng. Với quá trình thực hiện dự án kể trên, hiện nay 2 huyện Hướng Hóa, Đakrông của tỉnh Quảng Trị đã thành lập được 8 đội cồng chiêng, với mỗi đội có từ 15 đến 25 thành viên. Bên cạnh nhạc cụ này, còn có khèn bè, tù và, trống, chập chọe cũng là những loại nhạc cụ truyền thống của bà con.

Thanh Bình

Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư bám sát định hướng, chủ trương phát triển đất nước trong giai đoạn tới; kế thừa, phát huy những bài học kinh nghiệm; tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, để Đảng ta thật sự là đạo đức, là văn minh.

Gần 560 thư, điện mừng gửi tới Đại hội XIV của Đảng là nguồn cổ vũ, động viên to lớn đối với công cuộc đổi mới của nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, cũng là biểu hiện sinh động của quan hệ hợp tác, hữu nghị ngày càng sâu sắc giữa Đảng ta với các chính đảng, tổ chức, bạn bè quốc tế và kiều bào ở nước ngoài.

Ngày 20/1, Công an cửa khẩu Cảng hàng không quốc tế Đà Nẵng cho biết, đơn vị vừa nhận được thư điện tử cảm ơn của bà T.H.Đ.L., hành khách trên chuyến bay VN133 từ Đà Nẵng đi TP Hồ Chí Minh, bày tỏ sự xúc động và lòng biết ơn sâu sắc đối với lực lượng Kiểm soát an ninh sân bay vì đã tận tâm hỗ trợ tìm lại tài sản có giá trị bị thất lạc.

Trong chương trình nghệ thuật chào mừng Đại hội XIV của Đảng dự kiến diễn ra vào tối 23/1 tại Sân Vận động Quốc gia Mỹ Đình sẽ có 250 cán bộ, chiến sĩ, nghệ sĩ của Đoàn Nghi lễ CAND, Bộ Tư lệnh Cảnh sát Cơ động biểu diễn. Đây là lần đầu tiên trong một chương trình nghệ thuật có sự huy động đông đảo nhạc công nhất của Đoàn (200 nhạc công).

Việc Tổng thống Mỹ Donald Trump gia tăng sức ép nhằm giành quyền kiểm soát Greenland từ Đan Mạch – một đồng minh NATO – đang đẩy quan hệ Mỹ - châu Âu vào vòng xoáy căng thẳng mới, làm dấy lên nguy cơ tái bùng phát chiến tranh thương mại và gây xáo trộn trật tự an ninh xuyên Đại Tây Dương vốn đã chịu nhiều sức ép trong những năm gần đây.

Trước sức ép địa chính trị ngày càng lớn tại Bắc Cực, Đan Mạch cùng các đồng minh chủ chốt trong Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) đang thảo luận về việc thiết lập một phái bộ trinh sát và giám sát đa quốc gia tại Greenland. Động thái này được xem là bước đi chiến lược nhằm bảo vệ chủ quyền của Copenhagen và củng cố hệ thống phòng thủ của liên minh trước những biến động mới.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra trong thời điểm bản lề, khi Việt Nam đồng thời đẩy nhanh cải cách trong nước và định vị vai trò của mình trong một thế giới đầy bất ổn. Từ góc nhìn của một đối tác chiến lược lâu dài, Đại sứ Pháp tại Việt Nam Olivier Brochet đã điểm lại quỹ đạo phát triển của Việt Nam từ Đổi mới đến nay và chia sẻ những đánh giá về ý nghĩa của Đại hội, nhận định tương lai Việt Nam trong 5–10 năm cùng những lĩnh vực hợp tác trọng tâm giữa Pháp, Việt Nam và Liên minh châu Âu trong thời gian tới.

©2004. Bản quyền thuộc về Báo Công An Nhân Dân.
®Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Báo Công An Nhân Dân.
English | 中文