Vụ trộm ấn vàng của triều đình nhà Nguyễn tại Bảo tàng Lịch sử
Các báu vật này do bà Nam Phương Hoàng hậu (vợ vua Bảo Đại) hiến tặng Nhà nước ta trong "Tuần lễ vàng" do Chính phủ phát động vào những ngày đầu thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Một báu vật như vậy mà đã bị kẻ gian đột nhập lấy cắp, gây xôn xao dư luận lúc bấy giờ. Do vậy, việc điều tra khám phá, bắt giữ thủ phạm, thu hồi tang vật vụ trọng án này của các binh chủng trong lực lượng Cảnh sát nhân dân được coi là một chiến công đi vào lịch sử của lực lượng Công an.
Hơn nửa thế kỷ trôi đi, hồ sơ vụ án từ lâu đã khép lại, song nhiều người Hà Nội, một số cán bộ, nhân viên Bảo tàng, đặc biệt là những cán bộ, chiến sỹ Công an từng tham gia điều tra khám phá vụ án ấy vẫn còn nhớ đến từng chi tiết về diễn biến của vụ trộm gây kinh hoàng cũng như những nỗ lực vượt lên bao khó khăn, thử thách trong quá trình điều tra, khám phá vụ án.
Sau gần 3 năm điều tra, rà soát hàng trăm đối tượng ở Hà Nội và nhiều địa phương khác; vượt lên những khó khăn, thiếu thốn về phương tiện nghiệp vụ và đi lại, các chiến sỹ Công an ngày ấy bằng lòng nhiệt tình cách mạng, ý chí tấn công tội phạm đã khám phá thành công vụ án, bắt giữ đối tượng, thu hồi tài sản về cho đất nước.
Quá trình điều tra vụ án đã cho thấy công tác bảo quản phương tiện và các thiết bị bảo vệ các báu vật của quốc gia một thời còn bộc lộ quá nhiều sơ hở và yếu kém khiến bọn tội phạm dễ dàng lợi dụng để gây án.
Thực ra ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong những thập kỷ vừa qua đã từng xảy ra nhiều vụ trộm cắp các báu vật ở các viện bảo tàng. Có nhiều tài sản bị chúng lấy cắp trị giá hàng trăm triệu USD. Vụ trộm 2 báu vật của triều đình nhà Nguyễn do bà Nam Phương Hoàng hậu hiến tặng có thể xếp ngang hàng với những vụ trộm tầm cỡ từng xảy ra ở nhiều quốc gia trong các châu lục.
Do vậy, việc tái hiện vụ án này, chúng tôi coi đó là một bài học trong việc quản lý và bảo vệ các báu vật của quốc gia, không chỉ trong hệ thống bảo tàng mà còn ở nơi này, địa điểm kia.
Một buổi sáng kinh hoàng
![]() |
| Ấn vàng của triều đình nhà Nguyễn do Nam Phương Hoàng hậu hiến tặng. |
Đó là sáng 4/7/1961. Hôm đó, khi kiểm tra tại gian trưng bày các hiện vật thời nhà Nguyễn, các nhân viên quản lý bảo tàng hốt hoảng và kinh hoàng khi họ phát hiện ấn vàng có đôi rồng chạm nổi ở tay cầm và hàng chữ "Hoàng hậu Chi Bửu" đã không cánh mà bay.
Đây là vật phẩm của Nam Phương Hoàng hậu, nặng 4,9kg vàng. Cùng với chiếc ấn vàng, chiếc âu đựng trầu thuốc được đúc bằng vàng nặng 0,5kg cũng bị kẻ gian lấy cắp. Trước sự việc động trời này, các cán bộ và nhân viên bảo tàng thực sự hoang mang và bày tỏ sự lo lắng. Tin về vụ mất cắp 2 báu vật nói trên đã như một dòng điện nhanh chóng lan đi nhiều địa phương khác.
Ngay sau khi nhận được tin, đồng chí Trần Quốc Hoàn, Bộ trưởng Bộ Công an lúc bấy giờ đã chỉ thị cho các đơn vị nghiệp vụ của Bộ Công an và Giám đốc Sở Công an Hà Nội phải phối hợp chặt chẽ, sử dụng mọi biện pháp, mọi phương tiện để điều tra, nhanh chóng bắt thủ phạm, thu hồi tang vật về cho đất nước.
Thực hiện ý kiến chỉ đạo của đồng chí Bộ trưởng, ngay lập tức, một tổ khám nghiệm gồm các chuyên gia đầu ngành đã được huy động tham gia công tác khám nghiệm hiện trường. Nhưng rất tiếc, khi khám nghiệm họ chỉ thu được 2 mẩu đồng nhỏ trong ổ khóa cửa tủ trưng bày hiện vật, còn các dấu vết khác hầu như đều bị xóa.
Mở rộng khám nghiệm khu vực xung quanh, các chuyên gia khám nghiệm hiện trường thấy tất cả các cửa ra vào Bảo tàng đều chắc chắn, kiên cố và không tìm ra dấu vết cạy phá của kẻ gian. Điều này phù hợp với nhận định của một số nhân viên bảo tàng là vụ trộm mang tính nội bộ.
Không khí nghi kỵ lẫn nhau bao trùm trong khuôn viên Bảo tàng Lịch sử Việt Nam. Tuy nhiên, từ kết quả của công tác khám nghiệm hiện trường, theo chỉ đạo của đồng chí Bộ trưởng, công tác trinh sát không chỉ thực hiện trong việc rà soát các nghi vấn trong nội bộ mà còn được tiến hành ráo riết trên diện rộng.
Các đối tượng có tiền án, tiền sự, các đối tượng cờ bạc, buôn lậu, nhất là số đối tượng buôn lậu vàng bạc trên toàn thành phố Hà Nội và các tỉnh lân cận đều được các trinh sát lên danh sách để rà soát và sàng lọc.
Điều rất lạ là khi cuộc điều tra mới chỉ bắt đầu, trong lúc các trinh sát còn đang trong giai đoạn rà soát phân loại đối tượng thì không hiểu sao ông Vũ Lai, Trưởng phòng Bảo quản, sưu tầm và phục chế của Bảo tàng chủ động xin gặp các cán bộ điều tra để khai nhận mình gây ra vụ trộm ấn vàng và âu vàng của triều đình nhà Nguyễn.
Ông Vũ Lai khai trước cán bộ điều tra rằng: Do tuổi đã cao, thời gian làm việc không còn nhiều, khi nghỉ hưu sẽ không có khoản tiền gì thêm để sinh sống nên ngay từ đầu năm 1961, ông đã có ý định lấy một vài hiện vật đang được trưng bày tại Bảo tàng bằng vàng để lo cho cuộc sống sau này. Nghĩ thế nhưng ông còn đắn đo, chưa dám thực hiện ý định. Mãi đến trung tuần tháng 4/1961, ông Vũ Lai mới quyết định hành động.
Theo lời khai của ông thì hôm ấy, khoảng 4h chiều, ông mượn chìa khóa của anh Kiếm là nhân viên bảo vệ, đi lên khu vực gian trưng bày các hiện vật của triều đình nhà Nguyễn, mở hai tủ trưng bày, một tủ lấy được ấn, còn tủ kia lấy âu đựng trầu thuốc. Sau khi gây án, ông đã dùng chiếc áo mưa kiểu bộ đội gói lại rồi mang xuống chỗ làm việc của mình, xong việc ông đem trả chìa khóa cho anh Kiếm.
Đến 5h chiều, khi hết giờ làm việc, ông nấn ná về sau, lấy dây buộc bọc vàng lên xe rồi đạp xe ra phía bờ sông, dùng một que bằng gỗ để đào hố chôn chiếc ấn và chiếc âu vàng. Còn chiếc áo mưa, ông buộc lên xe đạp mang về nhà ở phố Bà Triệu, Hà Nội. Khoảng nửa tháng sau, sợ nước sông lên to cuốn trôi số vàng, ông tìm đến chỗ chôn vàng nhưng khi đào lên thì không thấy. Ông cho rằng, có người nào đó đã nhìn thấy ông mang chôn nên đã đào trộm và mang đi tiêu thụ. Để có chứng cứ, vợ ông Vũ Lai là bà Nguyễn Thị Tỵ đã đem giao nộp cho cơ quan điều tra một áo mưa mà ông Vũ Lai đã dùng để gói vàng.--PageBreak--
Lời khai của ông Vũ Lai đã thực sự gây sốc và bất ngờ đối với Ban chỉ đạo chuyên án cũng như các cán bộ điều tra. Do vậy, sau khi tiếp nhận lời khai của ông Vũ Lai để làm rõ sự thật, cơ quan điều tra đã bỏ nhiều công sức để xác minh, song thật đáng tiếc khi tổng hợp lời khai và kết quả điều tra, các trinh sát đã phát hiện lời khai của ông Vũ Lai là không có cơ sở vì nó chứa đựng nhiều mâu thuẫn.
Thì ra, vì quá lo lắng về vụ trộm, trách nhiệm cá nhân liên quan trực tiếp đến vụ trộm lại bị gọi hỏi nhiều, ông Vũ Lai sợ quá nên khai liều... Lúc này, có ý kiến cho rằng, các báu vật bị mất ấy rất có thể đã bị đưa ra ngoại quốc. Nhưng khi điều tra theo hướng này, các điều tra viên vẫn chưa thu được kết quả. Vụ án sau nửa năm điều tra vẫn rơi vào bế tắc.
Nhưng vì đây là một vụ án rất nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đến công tác giữ gìn an ninh quốc gia và trật tự nên lãnh đạo Bộ Công an đặt quyết tâm rất lớn. Hàng chục trinh sát tiếp tục được tung đến nhiều địa bàn khác nhau để thu thập tin tức liên quan đến vụ trộm.
Trong lúc các trinh sát đứng trước một trận đồ bát quái thì các trinh sát của Công an Hà Nội nhận được tin báo kinh hoàng khác: Hồi 3h sáng 5/1/1962, kẻ gian lại lọt vào Viện Bảo tàng lấy đi tiếp một số hiện vật quý của triều đình nhà Nguyễn gồm 1 ấn bạc mạ vàng có khắc hàng chữ "Cao đức Thái Hoàng Thái hậu" và 2 quyển kim sách cũng bằng bạc mạ vàng, một quyển khắc chữ "Bảo Long" và 1 quyển khắc chữ "Khải Định thập niên".
Lần theo dấu vết tội phạm
Ngay sau khi nhận được tin trên, các chiến sĩ Cảnh sát hình sự Công an Hà Nội và lực lượng điều tra của Bộ Công an đã cấp tốc triển khai lực lượng để bảo vệ nghiêm ngặt hiện trường.
Ở vụ trộm thứ 2 tại khuôn viên Bảo tàng này cho thấy, thủ phạm vụ án là những tên tội phạm chuyên nghiệp, táo tợn và thành thạo đường đi lối lại cũng như quy luật hoạt động của cán bộ, nhân viên cũng như những cơ sở trong hệ thống bảo vệ bảo tàng. Một lần nữa, cũng cho thấy công tác quản lý và việc trang bị các thiết bị bảo vệ Bảo tàng còn quá sơ sài khiến cho bọn tội phạm dễ dàng đột nhập gây án. Một lần nữa cán bộ điều tra lại phải tiếp cận hiện trường vụ án.
Với các chiến sỹ Công an được giao nhiệm vụ điều tra phá án thì vụ trộm thứ 2 xảy ra tại khuôn viên Bảo tàng này càng làm cho họ tỏ rõ sự quyết tâm, nâng cao ý thức trách nhiệm trước tài sản của quốc gia. Qua công tác khám nghiệm hiện trường, khác với vụ trộm trước, ở vụ trộm này, các trinh sát phát hiện có một bãi phân, 4 mảnh giấy dính phân và một số hạt ô mai để lại ở hiện trường. Đặc biệt là trên tấm kính của tủ trưng bày hiện vật, cán bộ kỹ thuật hình sự đã thu được 3 dấu vân tay thuộc bàn tay trái, nghi của thủ phạm để lại.
Hoàn tất công tác thu thập dấu vết ở hiện trường vụ án tại vụ trộm thứ 2 trong khuôn viên Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, khi ghép 4 mảnh giấy dính phân lại, trinh sát thấy đó là một bức thư của một người có tên là Đỗ Mộng Dần gửi cho một người có tên là Sửu. Trong nội dung bức thư ấy, có lời hỏi thăm các cháu Trung, Thanh, Phong và nhắc đến một số người có tên là Ất, Giáp, Mão. Một câu hỏi đặt ra đối với các trinh sát là vậy những người có tên trong bức thư này có liên quan gì đến vụ án, bây giờ họ ở đâu?
Để đẩy nhanh tiến độ điều tra vụ án, lúc ấy, Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn đã quyết định bổ sung thêm một số thành viên của Ban chuyên án và cử đồng chí Lê Hữu Qua, lúc đó là Cục trưởng Cục Cảnh sát nhân dân, làm Trưởng ban.
Trong buổi họp của Ban chuyên án, các thành viên Ban chuyên án đã phân tích rất kỹ về 4 mảnh giấy thu được ở hiện trường để xác định có phải do thủ phạm của vụ trộm bỏ lại hay do một người khách tham quan nào đó lúc bí đã lẻn vào đây phóng uế, vứt lại. Nhưng căn cứ vào diễn biến hoạt động của Bảo tàng thì nhiều khả năng là 4 mảnh giấy này do thủ phạm để lại.
Lại có ý kiến khác được nêu ra là những mảnh giấy này nguyên là một tờ giấy gói ô mai mà thủ phạm mua ở dọc đường thì sao? Cũng có thể đó là tờ giấy thủ phạm mang sẵn trong người, khi mua ô mai lấy ra để gói. Nguồn gốc của nó có thể là từ các bà buôn đồng nát và cũng có thể là từ đống giấy lộn trong nhà của một người có tên là Sửu... Điều tra vụ án chẳng khác nào mò kim dưới đáy biển.
Ở vụ án này Ban chỉ đạo chuyên án tôn trọng từng chi tiết của các vật chứng thu thập được ở hiện trường. Họ xem đây là dấu vết quan trọng thu được ở hiện trường nên đã quyết định cho mở rộng vụ án đến nhiều tỉnh, nhiều cơ quan để truy tìm người có tên Đỗ Mộng Dần, Ất, Mão, Giáp. Thực hiện chủ trương ấy, nhiều mũi trinh sát gồm các cán bộ Phòng Hình sự có kinh nghiệm của Bộ Công an và của Sở Công an Hà Nội được tung đi các địa bàn, nhiều cán bộ làm công tác kỹ thuật hình sự của Công an các tỉnh được huy động để truy tìm đối tượng qua dấu vân tay.
Đúng như chỉ đạo của Ban chuyên án tại tỉnh Hà Nam, sau một thời gian dài, thu thập chứng cứ, các trinh sát đã phát hiện: Ở huyện Kim Bảng có người tên là Đỗ Mộng Dần. Người này có các em tên là Ất và Giáp. Lấy mẫu chữ giám định, các cán bộ kỹ thuật phát hiện Đỗ Mộng Dần đã viết bức thư bị xé làm 4 mảnh mà cán bộ khám nghiệm đã thu được ở hiện trường. Kết quả trên khiến các trinh sát mừng vui khôn xiết.
Đi sâu tìm hiểu, trinh sát còn thấy nhà Đỗ Mộng Dần nghèo, song cách đây chừng 2 năm, thỉnh thoảng xuất hiện một người khách tên là Nguyễn Văn Thợi, hơn 30 tuổi, người hơi lùn.Thời đó mức sống của người dân Hà Nội cũng như nhân dân các tỉnh miền Bắc nước ta còn gặp nhiều khó khăn, ai cũng phải thắt lưng buộc bụng, chi tiêu dè xẻn thì qua điều tra, các trinh sát phát hiện đối tượng hiềm nghi có tên là Thợi là một tay chơi, ăn tiêu hoang phí và có nhiều bất minh trong quan hệ và đi lại.--PageBreak--
Trong thời gian có mặt ở Hà Nội, anh ta toàn ăn uống ở khách sạn Phú Gia, ven hồ Hoàn Kiếm. Điều tra tập trung vào Nguyễn Văn Thợi, các trinh sát được nhiều người dân cho biết Thợi đã từng là một đối tượng buôn lậu vàng, bạc và có đường dây buôn bán với các đối tượng buôn lậu khác ở một số tỉnh biên giới nên rất giàu có.
Cũng vào thời gian này, mũi trinh sát tại Hà Nội đã tìm ra được một người có tên Đỗ Văn Sửu. Người này có các con là Trung, Thanh, Phong, nhà ở khu bến Nứa, Hà Nội. Điều tra thêm một bước nữa, các trinh sát được biết: Người có tên Sửu lại là anh ruột của Đỗ Mộng Dần.
Chưa hết, qua điều tra, các trinh sát được biết, Nguyễn Văn Thợi đúng là trước đây thường ăn ở tại nhà một đối tượng có biểu hiện kinh tế bất minh. Mỗi lần về Hà Nội, hắn thường ăn, nghỉ tại khách sạn Phú Gia, ăn thịt chó ở phố Mã Mây và đã có lần do không mang theo tiền mặt, hắn đã trả bằng vàng... Từ những sự kiện ấy, theo chỉ đạo của Ban chuyên án, trọng tâm công tác điều tra mà Ban chuyên án vạch ra lúc này là đi tìm Nguyễn Văn Thợi, kẻ buôn lậu vàng bạc, đối tượng nghi vấn số 1 của vụ trộm ấn vàng.
Có một chi tiết trùng hợp ngẫu nhiên và mở ra bước ngoặt của vụ án là một hôm, đồng chí Nguyễn Ngọc Lân, trinh sát Cục CSND nhận được tin: "Có một xe ôtô màu trắng, bịt kín chở người từ ngoại thành vào Hà Nội, trên xe có một người hơi lùn và nhân dạng giống như Nguyễn Văn Thợi".
Thấy vậy, đồng chí Lân rất mừng, vội đến ngay Phòng Cảnh sát hình sự, Sở Công an Hà Nội. Tại đây, ông được biết, Nguyễn Văn Thợi hoá ra đang là đối tượng trong diện tập trung cải tạo, đã được đưa về trại giam Hỏa Lò. Ngay sau đó, được sự chỉ đạo của Ban chuyên án, ông đã lấy được dấu vân tay của Nguyễn Văn Thợi để đưa đi giám định. Kết quả giám định cho biết: Dấu vân tay thu được tại hiện trường vụ trộm báu vật ở Bảo tàng ngày 5/1/1962 chính là dấu vân tay của Thợi.
Lời thú tội
Qua xét hỏi, tên Nguyễn Văn Thợi (tức Chương, tức Khiêm, tức Sơn), 33 tuổi, kẻ đã có 17 tiền án, tiền sự về tội trộm cắp và buôn lậu, bị tập trung cải tạo, các điều tra viên được biết: Chính y đã gây ra cả 2 vụ trộm báu vật ở Viện Bảo tàng. Trước những chứng cứ xác đáng, Nguyễn Văn Thợi khai: Năm 1957, khi bị giam ở trại cải tạo Thái Nguyên, y có quen và chơi thân với người bạn tù là Nguyễn Sơn Trương (tức Bạt). Sau khi mãn hạn tù, bọn chúng tìm đến nhau.
Tháng 4/1961, Thợi và Trương rủ nhau vào tham quan Viện Bảo tàng, thấy ở đây có nhiều đồ vàng bạc được trưng bày, liền bàn cách lấy trộm. Lợi dụng sơ hở của cán bộ bảo vệ Bảo tàng, Thợi đã lấy được mẫu chìa khóa tủ trưng bày hiện vật rồi thuê thợ làm chìa khóa giả.
Ngày 1/6/1961, lừa lúc vắng khách tham quan và sơ hở của nhân viên bảo vệ, Thợi đã dùng chìa khóa mở tủ trưng bày, lấy một ấn vàng giấu vào bụng, lấy một âu vàng đưa cho tên Trương (cũng giấu vào bụng) rồi hai tên cùng lẳng lặng quay ra. Khi ra đến cửa Viện Bảo tàng, Trương dừng lại nói chuyện với nhân viên bảo vệ để che cho Thợi ra trước, còn hắn thì khéo léo ra sau. Số vàng lấy được, hai tên mang sang khu vực thị trấn Yên Viên (Hà Nội) chặt thành từng thỏi nhỏ rồi đưa đi tiêu thụ ở các tỉnh ở Bắc Giang, Lạng Sơn, Hải Phòng và Hà Nội...
Vụ thứ nhất trót lọt, công của Thợi rất lớn, nhưng vì số vàng phải chia nhỏ cho bọn ăn theo nên Thợi chẳng được bao nhiêu. Vì thế, hắn quyết định thực hiện vụ trộm thứ 2 ở Bảo tàng này.
Trong vụ trộm thứ 2, Thợi quyết định hành động một mình. Đóng vai khách tham quan, hồi 14h30 ngày 4/1/1962, Thợi ung dung vào một phòng tối, nấp sau mô hình tháp Bình Sơn ở gác 2. Tại đây, hắn ăn hết gói ô mai và phóng uế tại chỗ. Bức thư lấy ở nhà Sửu dùng gói ô mai, Thợi đã xé ra làm giấy vệ sinh.
Đến khoảng 2h sáng 5/1/1962, thấy xung quanh im ắng, Thợi rời nơi ẩn nấp, dùng chìa khóa giả để mở tủ trưng bày, lấy được chiếc ấn và hai quyển kim sách. Nhưng vận may đến với Thợi quá ít, lần này, y lấy phải toàn những thứ bằng bạc mạ vàng.
Khám nơi chứa chấp của gian tại nhà tên Đỗ Huệ ở thị trấn Yên Viên, cơ quan điều tra đã thu được một ấn bạc mạ vàng ghi "Cao đức Thái Hoàng Thái hậu" còn nguyên vẹn, nặng 74 lạng, 2,5kg bạc và 33 lạng vàng ta (kể cả số vàng mà các đối tượng thuê một hiệu vàng ở Hàng Giấy kéo thành nhẫn và số vàng thu được tại nhà tên Nguyễn Sơn Trương ở Bắc Giang).
Vụ án kết thúc sau 3 năm điều tra với biết bao nỗi gian truân, vất vả, có lúc tưởng bế tắc, song với quyết tâm tìm ra thủ phạm, các cán bộ điều tra đã đưa vụ án về đích. Tất cả các đối tượng trộm cắp, chứa chấp và tiêu thụ của gian gồm 19 tên đều đã bị bắt và chịu hình phạt nghiêm minh của pháp luật. Viết lại vụ án này, âu cũng là bài học cho công tác quản lý, trang bị các thiết bị, cũng như thực hiện sự nghiêm ngặt công tác bảo vệ, giữ gìn những báu vật quốc gia
