Cải thiện bức tranh bảo tồn voi Tây Nguyên

07:55 12/05/2020
Voi là loài vật gắn bó với người dân Tây Nguyên từ bao đời, được coi là một trong những biểu tượng văn hóa của vùng đất này. Trước đây Tây Nguyên là nơi có nhiều voi sinh sống, nhưng do tác động của con người trong những năm gần đây, quần thể voi Tây Nguyên ngày càng suy giảm.


Từ thông tin tập hợp qua báo chí, cổng thông tin các Bộ, ngành, các địa phương trong 5 năm trở lại đây, từ kết quả khảo sát qua các chuyến đi thực địa và phỏng vấn chuyên gia, nhóm biên soạn gồm các tác giả: Dương Văn Thọ, Nguyễn Thúy Hằng, Hoàng Văn Chiên thuộc Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) đã công bố ấn phẩm “Voi Tây Nguyên: Quần thể suy giảm đe dọa sự tồn vong”. 

Ấn phẩm nêu lên thực trạng bảo tồn voi nơi "đại ngàn" đồng thời đưa ra các khuyến nghị với mong muốn góp một phần cải thiện “bức tranh” bảo tồn voi ở Tây Nguyên hiện nay.

Số lượng suy giảm nhanh

Voi là loài vật gắn bó với người dân Tây Nguyên từ bao đời, được coi là một trong những biểu tượng văn hóa của vùng đất này. Trước đây Tây Nguyên là nơi có nhiều voi sinh sống, nhưng do tác động của con người trong những năm gần đây, quần thể voi Tây Nguyên ngày càng suy giảm. Nếu không có những biện pháp bảo tồn quyết liệt và hữu hiệu hơn, trong thời gian không xa nữa, hình ảnh đàn voi vốn thân thuộc với người Tây Nguyên sẽ chỉ còn trong tiềm thức.

Voi là loài vật gắn bó với người dân Tây Nguyên từ bao đời, được coi là một trong những biểu tượng văn hóa của vùng đất này. (ảnh minh họa)

Trong khoảng gần hơn 30 năm trở lại đây, số lượng voi Việt Nam nói chung và voi Tây Nguyên suy giảm nhanh theo từng năm. Những năm 1990, ước tính số voi hoang dã của Việt Nam còn khoảng 1.500 - 2.000 cá thể. Hiện chỉ còn khoảng 124 đến 148 cá thể voi hoang dã, phân bố trên 8 tỉnh bao gồm Sơn La, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Đắk Lắk, Đắk Nông, Đồng Nai và Bình Phước.

Trong đó chỉ có 3 khu sinh cảnh còn trên 10 cá thể voi là Vườn quốc gia Pù Mát và vùng phụ cận (tỉnh Nghệ An) còn 13 – 15 cá thể; Vườn quốc gia Cát Tiên, Khu Bảo tồn và Văn hóa Đồng Nai, Công ty Lâm nghiệp TNHHMTV La Ngà (Đồng Nai) còn 14 cá thể; Vườn quốc gia Yok Đôn (tỉnh Đắk Lắk) còn khoảng 80-100 cá thể. 

Số lượng voi hoang dã lớn nhất cả nước là Đắk Lắk hiện có 5 quần thể, trong đó quần thể nhỏ nhất gồm 5-10 cá thể, quần thể lớn nhất có 32-36 cá thể, phân bố chủ yếu ở Vườn quốc gia Yok Đôn.

Về voi nuôi (voi thuần dưỡng), theo thống kê năm 2018, cả nước có 91 voi nuôi tại 11 tỉnh, thành phố. Trong khi con số này của năm 2000 là 165. Tỉnh Đắk Lắk, nơi được coi là “thủ phủ” của voi thuần dưỡng, số voi cũng giảm mạnh. Cụ thể, trong thời gian 1979 - 1980 Đắk Lắk có 502 con voi thuần dưỡng; năm 1990 có 299 con; năm 1997 còn 169 con và năm 2000 chỉ còn 138 con, giảm 364 con trong vòng 20 năm (từ 1980 - 2000). Đến năm 2018, con số voi nuôi của Đắk Lắk giảm gần 100 cá thể so với năm 2000, chỉ còn 45.

Môi trường sống bị thu hẹp

Theo các chuyên gia, để bảo tồn voi hoang dã, vấn đề sống còn là duy trì sinh cảnh của chúng. Nhưng những cánh rừng già nguyên sinh, sinh cảnh cố hữu của voi đã và đang bị khai thác tràn lan, ngày càng suy giảm về diện tích, suy thoái về chất lượng hoặc bị xâm lấn bởi hoạt động của con người. Theo kết quả kiểm kê rừng của Tổng cục Lâm nghiệp, trong 7 năm (từ năm 2008-2014) diện tích rừng tự nhiên tại Tây Nguyên mất hơn 358.700ha, tương đương mỗi năm mất hơn 51.200ha rừng.

Một số dự án thủy điện khi đi vào hoạt động cũng ảnh hưởng không nhỏ đến đàn voi hoang dã. Số liệu của Sở Công thương Đắk Lắk cho thấy, sông Sêrêpôk có 6 con đập lớn tạo hồ chứa cho các nhà máy thủy điện chắn ngang dòng là Buôn Tuôr Sar, Buôn Kuôp, Hòa Phú, Đray Hling, Sêrêpôk 3, Sêrêpôk 4. Riêng thủy điện Sêrêpôk 4A lấy nước từ dòng chính Sêrêpôk dẫn sang kênh tạo cao trình trước khi đổ xuống tuabin nhà máy, rồi chảy theo kênh đào 4km nữa trước khi trả lại sông.

Các thủy điện trên sông Sêrêpôk làm thay đổi dòng chảy, kéo theo sự thay đổi sinh cảnh ven sông, thu hẹp không gian sinh tồn của loài voi và ảnh hưởng đến các “hố nước” vốn rất quan trọng với tập tính sinh tồn của loài voi, nhất là vào mùa khô.

Việc voi bị mất sinh cảnh, nguồn thức ăn và hành lang di chuyển làm nảy sinh những xung đột nghiêm trọng, thậm chí nguy hiểm giữa voi và con người.

Năm 2013, đàn voi rừng khoảng 17 cá thể đã kéo về cách trung tâm huyện Ea Súp 5 km gây rối. Tại xã Ea HLê, huyện Ea Hleo, trước năm 2012, voi rừng thường xuyên về phá hoại hoa màu của người dân. Nhưng thời gian gần đây không còn thấy voi xuất hiện, nguyên nhân là do khu vực này đã được nhà nước giao cho các công ty lâm nghiệp. Các công ty này đã tiến hành khai hoang rừng làm nhiễu loạn sinh cảnh khiến voi bỏ đi nơi khác.

Từ tháng 6/2012 đến tháng 12/2018, voi đã làm thiệt hại khoảng 100ha cây trồng các loại cũng như một số chòi rẫy, công cụ, dụng cụ sản xuất nông nghiệp của nhân dân và doanh nghiệp trên địa bàn. Voi rừng tấn công làm chết 1 voi nhà và làm bị thương nhiều voi nhà thả kiếm ăn trong rừng. Từ năm 2011 đến 2016, voi làm chết 1 người dân huyện Ea Hleo và 1 người dân huyện Ea Súp, làm bị thương một người dân huyện Ea Súp. Bảo tồn chưa hiệu quả

Bảo tồn voi là vấn đề được Việt Nam quan tâm, thể hiện qua các chương trình, đề án, kế hoạch hành động bảo tồn voi từ rất sớm. Những nỗ lực này được đánh giá là vẫn chưa đủ để ngăn đà suy giảm của quần thể voi. Từ những năm 90, theo Quyết định số 1204 ngày 16/7/1996 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chương trình hành động bảo tồn voi Việt Nam giai đoạn 1996 - 1998 đã được thực hiện. 

Theo đó, mục tiêu của chương trình là bảo tồn voi tại các vùng trọng điểm tỉnh Đắk Lắk thông qua các hoạt động như rà soát lại hệ thống rừng đặc dụng, xây dựng mới các khu bảo tồn thiên nhiên, tăng cường đầu tư, trợ giúp kỹ thuật để đảm bảo an toàn cho nơi sống của voi; xây dựng, bổ sung những quy định pháp luật nhằm ngăn chặn việc săn bắt, mua bán động vật hoang dã và các sản phẩm liên quan; chỉ đạo các địa phương giải quyết cụ thể những vụ xung đột voi với người; tuyên truyền bảo tồn voi trên phương tiện thông tin đại chúng…

Nối tiếp là Kế hoạch hành động khẩn trương bảo tồn voi đến năm 2010 theo Quyết định số 733 ngày 16/5/2006 của Thủ tướng Chính phủ. Sau 5 năm triển khai thực hiện, Kế hoạch này cũng thu được một số kết quả, trong đó có việc xây dựng hoàn thiện dự án bảo tồn voi tại các tỉnh có số lượng quần thể voi lớn nhất là Đắk Lắk, Đồng Nai và Nghệ An; đồng thời thành lập Trung tâm bảo tồn voi Đắk Lắk nhằm hỗ trợ công tác chăm sóc, hỗ trợ sinh sản cho đàn voi.

Tiếp đến năm 2012, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 940 ngày 29/7/2012 về Phê duyệt Kế hoạch hành động khẩn cấp đến năm 2020 để bảo tồn voi ở Việt Nam. Tháng 5/2013, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Tổng thể bảo tồn voi Việt Nam giai đoạn 2013-2020” tại Quyết định số 763, với tổng kinh phí khái toán 278 tỷ đồng từ ngân sách nhà nước và các tổ chức, cá nhân nước ngoài tài trợ.

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tính đến năm 2018, sau 3 năm thực hiện, đề án đã đạt được một số kết quả như tình trạng săn bắn, giết hại voi giảm; số lượng cá thể voi có tín hiệu phát triển tăng; xung đột voi/người cũng được hạn chế. 

Ở cấp địa phương, Đắk Lắk vào cuộc khá sớm, năm 2010 UBND tỉnh phê duyệt dự án Bảo tồn voi tại Đắk Lắk giai đoạn 2010-2015 với tổng kinh phí 61 tỷ đồng. Dự án được triển khai nhằm quản lý bền vững quần thể voi hoang dã, phát triển đàn voi nhà, bảo tồn bản sắc văn hoá bản địa, tuyên truyền giáo dục về môi trường sinh thái. Đến năm 2013, UBND tỉnh phê duyệt “dự án khẩn cấp bảo tồn voi tỉnh Đắk Lắk đến năm 2020” với tổng kinh phí gần 85 tỷ đồng (thay cho dự án trước đó).

Các chuyên gia cho rằng so với nhiều loài khác, chính sách bảo tồn voi thể hiện rõ cam kết của Nhà nước khi bố trí cả nguồn lực tài chính và con người, nhưng hiệu quả chưa cao vì nhiều nguyên nhân. Trước hết là cho đến nay, các cơ quan bảo tồn vẫn chưa có số liệu chính xác về quần thể voi Tây Nguyên. Phương pháp thống kê số lượng voi chủ yếu qua quan sát bằng mắt thường hoặc dấu chân và chưa có kinh phí để sử dụng phương pháp phân tích ADN (ước tính trung bình 3000 USD/mẫu).

Khuyến nghị về các giải pháp

Để bảo vệ và phát triển quần thể voi Tây Nguyên, phải tiến hành giải pháp xét nghiệm mẫu phân để thống kê chi tiết các khu vực có voi, nhằm xác định tương đối chính xác số lượng cá thể, cấu trúc giới tính, cấu trúc tuổi. Đánh giá tình trạng sinh cảnh và khả năng bảo tồn tại chỗ của các đàn voi. 

Áp dụng công nghệ hiện đại như đeo vòng cổ gắn chíp điện tử để giám sát di chuyển của voi. Nghiên cứu khả năng thiết lập hành lang sinh cảnh liên kết vùng hoạt động của các đàn voi nhỏ, tính tới khả năng di dời các đàn/cá thể ở những địa phương khác trong nước có quá ít cá thể voi để bổ sung cho các đàn voi ở khu vực trọng điểm là Vườn quốc gia Yok Đôn - Ea Súp.

Bảo tồn sinh cảnh của voi nhằm bảo tồn và phát triển số lượng cá thể voi hoang dã hiện có tại tỉnh Đắk Lắk. Đặc biệt cần giữ được nguyên vẹn 173.000ha diện tích cư trú, di chuyển, kiếm ăn của quần thể voi này. Ngăn chặn các hành vi săn bắn, giết hại voi trái pháp luật thông qua việc đẩy mạnh thực thi pháp luật, xử lý thích đáng các hành vi săn bắt, buôn bán các sản phẩm và dẫn xuất của voi. 

Với đàn voi nhà, cần quy hoạch khu chăn thả, chăm sóc sức khỏe, sinh sản tại huyện Lắk (150 ha) và huyện Buôn Đôn (200ha) là 2 huyện duy nhất còn phân bố voi nhà trong tỉnh. Tăng cường năng lực cứu hộ, chăm sóc sức khoẻ, hỗ trợ sinh sản phát triển quần thể voi để giữ gìn không chỉ một nguồn gen quý, mà còn cả một biểu tượng văn hóa của vùng đất "đại ngàn".

Văn Hào

Trong chương trình “Mãi mãi niềm tin theo Đảng” vào tối 16/1 – chương trình chính luận nghệ thuật chào mừng kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng, hướng tới Đại hội XIV của Đảng, ca sĩ Anh Tú tạo nhiều bất ngờ khi giới thiệu đến công chúng ca khúc mang tên “Thưa Đảng” do chính anh sáng tác.

Trước thềm trận bán kết Vòng chung kết U23 châu Á, cái tên U23 Trung Quốc mang đến nhiều suy ngẫm lẫn tò mò. Không hào nhoáng, không áp đảo về mặt thế trận, đội bóng trẻ đến từ Đông Á lại lặng lẽ tiến sâu bằng một con đường khác biệt: phòng ngự đến tận cùng và chắt chiu từng khoảnh khắc sinh tồn. Đó không phải là lối chơi hấp dẫn, nhưng lại là một bài toán thực sự hóc búa cho bất kỳ đối thủ nào, trong đó có U23 Việt Nam.

Giữa trùng khơi, trong nhịp sóng vỗ nơi đảo tiền tiêu của Tổ quốc, hơn 1.900 người dân cùng các lực lượng vũ trang trên đặc khu Thổ Châu (tỉnh An Giang) đang hân hoan, tin tưởng hướng về Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Đây không chỉ là sự kiện chính trị trọng đại của dân tộc mà còn mang theo bao mong muốn, kỳ vọng về một cuộc chuyển mình lịch sử cho Tổ quốc trong kỷ nguyên vươn mình.

Thực hiện cao điểm tấn công, trấn áp tội phạm, bảo đảm an ninh, trật tự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026, Công an tỉnh Điện Biên vừa bắt 1 đối tượng, tang vật thu giữ 10 bánh ma túy.

Trong bối cảnh địa chính trị toàn cầu có những chuyển dịch phức tạp, Greenland giờ không chỉ là một hòn đảo tự trị băng giá xa xôi của Đan Mạch. Tổng thống Donald Trump gần đây thường xuyên khẳng định, Mỹ phải kiểm soát Greenland để chống lại mối đe dọa từ các đối thủ ở khu vực Bắc Cực. Đặc biệt, với sự xuất hiện của hệ thống Vòm Vàng và hệ thống vũ khí hiện đại, nhu cầu kiểm soát Greenland trở nên đặc biệt cấp thiết.

Trong không khí Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, đồng chí Nguyễn Hồng Thái, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Bắc Ninh đã trả lời phỏng vấn các cơ quan báo chí trung ương và địa phương về tầm nhìn, mục tiêu và những định hướng lớn nhằm xây dựng Bắc Ninh phát triển nhanh, bền vững, hiện đại, giàu bản sắc; phấn đấu trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trước năm 2030.

Những ngày gần đây, dư luận cả nước đặc biệt quan tâm đến thông tin báo chí phản ánh việc xuất hiện một ngôi nhà rường bằng gỗ dựng ngay trước cổng vào bửu thành của Lăng Hoàng thái hậu Từ Dụ, đồng thời một cổng gỗ dạng tam quan cũng được dựng ở khu vực phía ngoài Lăng vua Thiệu Trị. Cả hai công trình đều do Trung tâm Bảo tồn Di tích cố đô Huế cho xây dựng, với lý do “phục vụ hương khói, nghi lễ” và được thực hiện từ nguồn xã hội hóa.

Với 88 ca ghép gan cho bệnh nhi, Bệnh viện Nhi Trung ương hiện là đơn vị có số ca ghép gan nhi nhiều nhất tại Việt Nam, trong đó có những ca đòi hỏi kỹ thuật khó. Sau mỗi ca ghép thành công là một tương lai được viết lại, một cuộc đời được hồi sinh từ lòng nhân ái của người hiến và gia đình, cùng sự tận tâm, nỗ lực của các y bác sĩ. Ca ghép thứ 88 được thực hiện cuối năm 2025 là dấu mốc quan trọng đánh dấu lần đầu tiên Bệnh viện Nhi Trung ương thực hiện thành công ca ghép gan từ người hiến chết não cho bệnh nhi 3 tuổi bị teo đường mật bẩm sinh.

Ngày 18/1, Ban Quản lý dự án Chương trình phát triển các đô thị loại II (thuộc Sở Tài chính TP Huế) cho biết, đã ban hành quyết định xử phạt Công ty Cổ phần 479 Hòa Bình với tổng số tiền hơn 1,5 tỷ đồng do vi phạm tiến độ hợp đồng tại gói thầu số 28 nâng cấp, mở rộng cầu Vỹ Dạ và xây dựng tuyến đường 100m nối khu đô thị A-B thuộc khu đô thị An Vân Dương.

©2004. Bản quyền thuộc về Báo Công An Nhân Dân.
®Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Báo Công An Nhân Dân.
English | 中文