Viết mãi về yêu thương...
Sáng nay, trời miền Bắc lạnh, sương giăng trên phố. Ai cũng muốn khởi động ngày mới bằng những cảm xúc thật thi vị. Thế mà, thay vì một tô phở nóng điểm tâm cùng ly cà phê nâu như mọi khi để tiếp thêm năng lượng sáng tạo, tôi lựa chọn một “tô phở” đặc biệt chỉ trên trang báo điện tử với tiêu đề: “Mang Phở yêu thương đến vùng rốn lũ”, của tác giả Minh Chiến - Lan Hương, đăng trên Báo Tuổi trẻ.
Đó là câu chuyện tô phở của ngày mới 8/1 khi ban tổ chức đã mời hơn 5.000 người dân Hòa Thịnh thưởng thức. Đây là chương trình do Báo Tuổi trẻ, Sở Công thương TP. Hồ Chí Minh phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Đắk Lắk, xã Hòa Thịnh tổ chức, nhưng có lẽ còn chứa đựng cả tình cảm nồng ấm của nhân dân cả nước.
Cũng trong bài báo này, người đọc đã tìm thấy những nụ cười hồi sinh sau rất nhiều giọt nước mắt. Ông Trần Văn Khánh (76 tuổi, thôn Phú Hữu) - người có căn nhà từng bị sập hoàn toàn sau trận lũ - đã chia sẻ rất chân thật: “Có nhà mới tôi mừng lắm, nay được trưởng thôn phát phiếu đến dự chương trình Phở yêu thương, tôi càng vui. Mấy ngày lũ tôi cùng vợ và hàng xóm ngồi trên những cuộn rơm kê cao, chia nhau gói mì ăn sống. Lúc đó chỉ thèm một chén cơm, tô phở mà không có để ăn. Nay được mời, tôi sẽ đến ăn phở rồi xin mang về cho vợ vì bà đang bệnh”.
Vậy là, lại phải lùi xa một chút để có một cái nhìn thấu đáo. Cách đây gần 2 năm, phở Hà Nội đã trở thành Di sản phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 2328/QĐ-BVHTTDL do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ký và ban hành. Kể từ đó, những bát phở Việt Nam có một vị thế và sứ mệnh khác. Các sự kiện quảng bá di sản văn hóa này lần lượt được tổ chức. Mới đây, “Tuần lễ Phở châu Âu” do hội We Love Phở tổ chức từ ngày 8 đến ngày 14/12/2025 tại châu Âu đã được đón nhận.
Còn với hôm nay, khi chúng ta đưa di sản văn hóa đến với vùng đất đang hồi sinh sau thiên tai lại mang một ý nghĩa mới: quyền được hưởng hạnh phúc và yêu thương. Chính từ quyền cơ bản và thực tế đó đã làm nên văn minh nhân loại và văn hóa của từng quốc gia dân tộc.
Đó cũng là nguyện vọng, ý chí của từng con người và là mục tiêu phát triển xã hội để rồi từ đó khó khăn nào cũng có thể vượt qua bằng khát vọng và quyết tâm xây dựng đời sống ấm no, hạnh phúc. Những tô phở thơm ngon đến với bà con ở chính nơi mà từng gói mì tôm phải sản sẻ để cầm hơi trong lũ dữ. Hôm nay, di sản văn hóa quốc gia đến với nơi từng mất mát lớn như thế đã nói lên sức mạnh hồi sinh của một dân tộc.
Còn nhớ, ngày trước có một nhà giáo từng chia sẻ với tôi, khi ông giảng những câu thơ trong bài “Ba mươi năm đời ta có Đảng” của nhà thơ Tố Hữu (viết năm 1960): “Năm năm mới bấy nhiêu ngày/ Mà trông trời đất đổi thay đã nhiều.../ Dân có ruộng, dập dìu hợp tác/ Lúa mượt đồng, ấm áp làng quê”. Ông bảo, phải sống ở thời điểm ấy mới cảm nhận được không khí thời đại và niềm xúc động của nhân dân khi đất nước là của mình, ruộng đất được trả lại cho mình.
Ngẫm ra, từ chủ quyền quốc gia lãnh thổ đến chủ quyền văn hóa để tự tin vững vàng hội nhập là một sự phát triển ở mức độ cao. Từ sự tiếp thu có chọn lọc để cách tân, hiện đại hóa đến tỉnh táo lựa chọn và tiếp biến văn hóa thể hiện trong từng sự kiện có tầm ảnh hưởng lớn.
Nhà soạn kịch Menander (khoảng năm 341/342 trước Công nguyên - 290 trước Công nguyên) từng nói: “Culture makes all men gentle” (Văn hóa khiến tất cả con người trở nên dịu dàng)”. Hai chữ “gentle” dù được hiểu theo nghĩa dịu dàng, danh giá hay cao quý... thì đều mang ý nghĩa tích cực, lan tỏa trong xã hội và thiết lập mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người.
Xin tạm gác lại chuyện những tô phở yêu thương để mở ra một góc nhìn khác. Công nghiệp văn hóa là sự kết hợp giữa nghệ thuật và thương mại. Nếu như nghệ thuật có nguồn gốc từ chính phương thức canh tác, hoạt động sản xuất, văn hóa dân gian là nền tảng vững chắc thì thương mại với bản chất là quy luật của nền kinh tế lại có mặt chưa lâu ở các nước đang phát triển. Chúng ta vẫn thường nghe thấy những khái niệm quen thuộc như: “dòng phim thị trường”, “văn học thị trường”, “nhạc thị trường”... và luôn đặt dấu hỏi đầy lo ngại: việc chạy theo thị hiếu, lợi nhuận có làm ảnh hưởng đến chất lượng nghệ thuật.
Người viết cho rằng, suy cho cùng, dù nghệ thuật được thể hiện dưới hình thức nào, áp dụng công nghệ ra sao thì vẫn phải hướng đến người thụ hưởng là nhân dân, người dân được thụ hưởng một cách chủ động. Bởi lẽ, họ chính là người hưởng lợi ích từ sản phẩm văn hóa mà mình tạo ra từ tư cách chủ thể văn hóa.
Trong bài viết có tiêu đề “Khi người miền núi kể chuyện di sản bằng công nghệ số”, trên Tạp chí Tia sáng, các tác giả Nguyễn Viết Dũng - Nguyễn Đặng Tuấn Minh đã cung cấp những thông tin quý giá và lập luận chặt chẽ: “Anh Lâm A Nâng tự học cách làm sản phẩm nước rửa bát từ trái cây và các sản phẩm thiên nhiên để bảo vệ quê hương khỏi ô nhiễm do lượng khách tăng lên. Chị Vàng Thị Mai - một phụ nữ Tày khác - chủ động mở lớp học đàn tính cho các chủ homestay, người truyền dạy là cha của chị, nghệ nhân làm đàn Vàng A Ưởng. Những thay đổi như thế không thể có nếu chỉ nói về “chuyển đổi số”. Đó là “chuyển hóa”.
Sự phân tích của các tác giả đã chỉ ra một thực tế: Công nghệ là đòi hỏi, là cơ hội và cũng là sự phản biện quyết liệt nhất cho những định kiến bấy lâu của chúng ta. Hóa ra, chúng ta từng bỏ quên hay đánh mất chính bản thân mình. Chuyển đổi số không chỉ là việc bạn mua thiết bị, mua gói thuê bao, cài đặt ứng dụng và làm quen với công nghệ... mà chính là sự chuyển đổi quan niệm sống. Nhờ cú hích này mà chúng ta hiểu bản thân hơn, trân trọng nền văn hóa và bản sắc của mình hơn.
Vẫn trong mạch suy luận đó, các tác giả tiếp tục lý giải: “Chuyển đổi số, suy cho cùng, rộng hơn việc “học cách sử dụng công nghệ”. Đó là chuyển đổi tư duy từ thụ động sang chủ động, từ đơn lẻ sang liên kết, từ cắt rời văn hóa khỏi kinh tế sang gắn liền kinh tế với di sản văn hóa. Khi điều đó xảy ra, thì không chỉ bản Liền - mà cả những vùng núi xa xôi khác cũng có thể viết lại câu chuyện phát triển của mình, bằng chính ngôn ngữ của cộng đồng và tầm nhìn của tương lai”.
Có lẽ, khi đọc đến đây, chúng ta đều nhận thấy bấy nhiêu lập luận phân tích ở trên cũng chỉ để nói rất cần: “Viết lại câu chuyện phát triển”. Phải rồi, mọi sự giữ gìn, chấn hưng, mọi nỗ lực số hóa hay giáo dục, tuyên truyền, khích lệ đều nhằm mục tiêu viết lại câu chuyện phát triển cho bản thân và gia đình, quê hương, dân tộc mình.
Trên hành trình phát triển, chúng ta chấp nhận cả những rủi ro từ nguyên nhân khách quan, từ thất bại do sai lầm chủ quan nhưng không bao giờ quên giá trị nhân văn chính là nguyên tắc sống quan trọng nhất và kiên định đi trên con đường đó. Có muôn vàn cách tiếp cận và sáng tạo, giữ gìn văn hóa. Văn hóa luôn là những ô cửa để chúng ta mở sang nhau và mở ra cộng đồng thế giới, chỉ có điều không bao giờ được quên một nguyên tắc sống còn: đó là yêu thương, cần viết tiếp và viết mãi...