Chim nghiêng cánh nhỏ

08:36 09/12/2019
Trong hành trình của đời sống và sáng tạo nghệ thuật, từ người bình thường cho tới người nghệ sĩ đôi khi ước ao mình thành một tha nhân. Rồi lại có lúc chẳng muốn làm tha nhân mà muốn làm một loài khác hẳn con người...

Chẳng hạn Nguyễn Công Trứ từng ước kiếp sau làm cây thông (bài "Vịnh cây thông"), Nguyễn Quang Thiều ước kiếp sau làm một con chó nhỏ (bài "Bài hát về cố hương"). Và còn rất nhiều thi sĩ khác đã gửi lòng mình theo những cánh chim, qua những loài chim mà bộc lộ bao tâm sự nỗi niềm, hoặc giả cũng muốn hóa thân thành một đời sống tự do vút cao cùng mây trời phiêu lãng. Bài viết này, vì thế, sẽ luận về những loài chim trong thi ca nghệ thuật.

1.Đi vào thi ca, định danh chim trước tiên có thể xuất hiện như một cách nói chung chung bởi không sở chỉ rõ một loài cụ thể nào. Thế nhưng ngay cả trong cách dùng chung chung này ta vẫn thấy những tư duy ẩn dụ và liên tưởng khác hẳn nhau, tùy thuộc vào từng hoàn cảnh.

Chẳng hạn cũng là chim trong lồng nhưng trong lời cô gái ở bài ca dao thì đó là một sự an bài, một nỗi ngậm ngùi buồn thương về một sự đã rồi, không thể thay đổi: “Bây giờ em đã có chồng/ Như chim vào lồng như cá mắc câu/ Cá mắc câu biết đâu mã gỡ/ Chim vào lồng biết thuở nào ra”.

Nhưng cũng là chim trong lồng trong bài thơ của Nguyễn Hữu Cầu (thế kỷ XVIII) thì lại là một khí thế hoàn toàn khác. Người anh hùng khi sa cơ vẫn ngẩng cao đầu kiêu hãnh, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng: “Mặc bay Đông ngữ Tây đàm/ Chờ khi phong tiện dứt dàm vân lung/ Bay thẳng cánh muôn trùng Tiêu Hán/ Phá vòng vây làm bạn kim ô/ Giang sơn khách diệc tri hồ”.

Thời trung đại, có những cánh chim xuất hiện trong sự mệt mỏi cô đơn, rợn ngợp trong không gian rộng lớn và lòng người dường cũng nương theo nỗi buồn mênh mang hoặc những âu lo dự cảm: “Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi” (Chiều hôm nhớ nhà - Bà huyện Thanh Quan), “Chử thanh sa bạch điểu phi hồi” (Bến trong cát trắng lượn chim cồn) (Đăng cao – Đỗ Phủ), “Chim hôm thoi thót về rừng” (Truyện Kiều – Nguyễn Du), “Con chim bạt gió lạc loài kêu thương” (Chinh phụ ngâm – bản dịch Đoàn Thị Điểm).

Những cánh chim cô đơn và rợn ngợp ấy sẽ còn gặp lại nhiều trong thời kỳ 1932 - 1945 với nỗi buồn u uẩn của nhiều nghệ sĩ lãng mạn: “Chim nghe trời rộng giang thêm cánh” ("Thơ duyên" – Xuân Diệu), “Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa” (Tràng giang – Huy Cận), “Đôi cánh chim bâng khuâng rã rời/ Cùng mây xám về ngang lưng trời” ("Đêm đông" – Nguyễn Văn Thương).

Dĩ nhiên, bên cạnh cánh chim cô đơn, mỏi mệt và u buồn, chim cũng biểu hiện một tình yêu thiên nhiên cuộc sống của người thi sĩ, chẳng hạn những câu trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi: “Trì tham nguyệt hiện chăng buông cá/ Rừng tiếc chim về ngại phát cây” (Mạn thuật, bài 6), “Núi láng giềng chim bầu bạn/ Mây khách khứa nguyệt anh tam” (Thuật hứng, bài 19).

Sau này, trong thời hiện đại, có nhiều những cánh chim đi vào thi ca vởi những giá trị biểu cảm tích cực, thể hiện tình yêu tự do, vẻ đẹp cuộc sống hoặc khát vọng cống hiến: “Tôi như con chim đang bay trên đồi cao” ("Đi tìm lời ru nữ thần mặt trời" - Nhạc và lời: Y Phôn KSor), “Ta làm con chim hót/ Ta làm một nhành hoa” ("Mùa xuân nho nhỏ" - Thanh Hải), “Nếu là con chim chiếc lá/ Thì con chim phải hót chiếc lá phải xanh” (Tố Hữu), “Có chú chim từ mờ sương hay hót véo von nghe véo von” ("Em nhớ Tây Nguyên" – Nhạc và lời: Trần Quang Huy). Có những câu thơ tài hoa, xuất sắc của một đời thơ gắn với chim, điển hình nhất là trường hợp Khương Hữu Dụng trong trường ca "Từ đêm mười chín": “Một tiếng chim kêu sáng cả rừng”.

2. Giờ đi vào trường hợp những loài chim với tên gọi cụ thể xuất hiện trong thi ca. Theo các tài liệu sinh học, trên toàn thế giới có tới hơn 10.000 loài chim, còn ở Việt Nam cũng có tới 848 loài chim thuộc 88 họ. Lẽ dĩ nhiên khi đi vào thơ ca, chỉ có một số loại chim được lựa chọn. Sự lựa chọn ấy gắn với tư duy thẩm mỹ, thi pháp của từng thời kỳ cũng như những đặc điểm về văn hóa truyền thống quy định và tạo nên. Theo khảo sát của chúng tôi, những loài chim được đưa vào thi ca của người Việt nhiều nhất là cò, họa mi, sơn ca, én (nhạn), sáo và bồ câu.

Cánh cò có thể nói đã có mặt từ sớm trong những bài ca dao lâu đời, như một hình ảnh thân thuộc trên những cánh đồng của nông thôn Bắc Bộ: “Con cò bay lả bay la/ Bay từ cửa phủ bay ra cánh đồng”. Cánh cò thường được liên tưởng, ví von với thân phận người phụ nữ mảnh mai vất vả, một nắng hai sương: “Con cò lặn lội bờ sông/ Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non”.

Không chỉ là người phụ nữ, cánh cò còn gợi nên liên tưởng chung về những thân phận bé mọn, vất vả, nhiều khi không thể tự quyết định số phận của mình mà phải phó thuộc vào bàn tay kẻ khác. Bài ca dao nổi tiếng “Con cò mà đi ăn đêm” là một minh chứng điển hình: “Con cò mà đi ăn đêm/ Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao/ Ông ơi ông vớt tôi nao/ Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng/ Có xáo thì xáo nước trong/ Đừng xáo nước đục đau lòng cò con”.

Sang thời trung đại, con cò trong thơ Tú Xương vẫn được so sánh với hình ảnh vất vả sớm khuya của bà Tú, người “nuôi đủ năm con với một chồng”: “Lặn lội thân cò khi quãng vắng/ Eo sèo mặt nước buổi đò đông” (Thương vợ). Nhưng đến thời kỳ hiện đại, cụ thể là từ nửa đầu thể kỷ XX, bắt đầu có những chuyển biến về tư duy – cảm quan thẩm mỹ trong việc đưa cánh cò vào thi ca. Câu thơ của Xuân Diệu trong bài “Thơ duyên” được Hoài Thanh ca ngợi: “Từ cánh cò của Vương Bột lặng lẽ bay với ráng chiều tới cánh cò của Xuân Diệu không bay mà cánh phân vân có sự cách biệt của hơn một ngàn năm và của hai thế giới: “Mây biếc về đâu bay gấp gấp/ Con cò trên ruộng cánh phân vân”.

Cho đến bài thơ “Con cò” nổi tiếng của Chế Lan Viên, hình tượng này đã có bước phát triển qua nhiều cung bậc ngữ nghĩa để từ cánh cò trong giấc mơ tuổi thơ đi đến cánh cò ước mơ hoài bão và rồi cuối cùng là cánh cò của tình mẫu tử: “Lên rừng xuống bể/ Cò sẽ tìm con/ Cò mãi yêu con/ Con dù lớn vẫn là con của mẹ/ Đi hết đời, lòng mẹ vẫn theo con”.

Họa mi và sơn ca đều là những loài chim có tiếng hót hay, dễ làm lòng người say đắm và xúc động. Họa mi xuất hiện sớm nhất trong thi ca thành văn của người Việt có lẽ là từ Tản Đà với bài “Chim họa mi trong lồng”.

Ở đây, họa mi đã bị thi sĩ gán cho ý nghĩa phản bội, lãng quên cội nguồn, ngụ ý đả kích phê phán những kẻ bán nước: “Họa mi ai vẽ nên mi/ Trông mi mi đẹp hót thì mi hay/ Ai đưa mi đến chốn này/ Nước trong gạo trắng mi ngày ăn chơi/ Lồng son cửa đỏ thành thơi/ Mi bay mi nhảy sướng đời nhà mi/ Nghĩ cho mi cũng gặp thì/ Rừng xanh mi có nhớ gì nữa không?” Nhưng cho đến “Họa mi hót trong mưa” (nhạc và lời Dương Thụ) thì cảm quan khác hẳn, chỉ còn là sự buồn thương, gieo giắc vào lòng người những thanh âm của nỗi niềm nhớ nhung trông ngóng: “Tiếng mưa rơi ngoài hiên gió mưa như lạnh thêm/ Có con chim họa mi hót trong mưa buồn lắm(...) Ôi trong mưa họa mi vẫn hót thật dịu dàng dịu dàng/ Trên môi em tình yêu đã mất còn nồng nàn nồng nàn...”.

 Khác với họa mi, sơn ca xuất hiện trong nhiều ca khúc viết cho thiếu nhi và luôn gợi âm hưởng vui tươi trong sáng rộn rã. Có tới ít nhất ba ca khúc nổi tiếng với sự xuất hiện của chim sơn ca, đó là các bài “Như bầy sơn ca” (Y Vân), “Khúc hát chim sơn ca” (Đỗ Hòa An) và “Ước mơ hồng” (Phạm Trọng Cầu): “Như chim sơn ca hót trên cao xanh bao la, tiếng chim ngân nga tiếng chim bay xa tiếng chim vui vào mọi nhà” (Ước mơ hồng).

Còn với chim én, loài chim hiền lành này được coi là báo hiệu của mùa xuân, luôn thể hiện tình đoàn kết và đi vào vô số các tác phẩm âm nhạc nổi tiếng trong thế kỷ XX. Bắt đầu từ “Mùa chim én bay” (thơ Diệp Minh Tuyền, nhạc Hoàng Hiệp), “Tạm biệt chim én” của Trần Tiến cho đến “Cánh én tuổi thơ” của Phạm Tuyên, các ca khúc đã làm say đắm bao thế hệ người nghe.

Một loài chim khác của mùa xuân là chiền chiện cũng đi vào thi ca và những lời thơ tiếp tục được âm nhạc chắp cánh: “Ôi con chim chiền chiện/ Hót chi mà vang trời/ Từng giọt long lanh rơi/ Tôi đưa tay hứng về” ("Mùa xuân nhỏ nhỏ" - Thơ: Thanh Hải, Nhạc: Trần Hoàn), “Bay cao bay vút/Chim biến mất rồi/ Chỉ còn tiếng hót/ Làm xanh da trời” ("Con chim chiền chiện" – Huy Cận)

Một số loài chim đặc biệt khác dù chỉ xuất hiện một lần trong thi ca nhưng đã nhanh chóng tạo được những ám ảnh nghệ thuật, khắc sâu vào trí nhớ người đọc: “Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản” (Thôi Hiệu), “Anh là chim bói cá/Em là ánh trăng ngà/Cách nhau một mặt hồ/Mà muôn trùng chia xa” (Du Tử Lê)

Xin được khép lại bài viết bằng những cánh chim yêu thương trong ca khúc "Cho con" của cố nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu. Cánh chim xuất hiện ngay từ câu đầu của bài hát trong tình cảm của người cha và cánh chim ấy cũng kết thúc ca khúc khi gắn với hình ảnh người con khôn lớn trưởng thành vẫn mãi hướng về quê hương và cha mẹ: “Ba sẽ là cánh chim cho con bay thật xa (...) Rồi mai đây khôn lớn bay đi khắp mọi miền, con đừng quên con nhé ba mẹ là quê hương...”.

Hình tượng cánh chim trời đã đi vào thơ ca, nhạc họa - (Ảnh mang tính minh họa)
Đỗ Anh Vũ

Trong bài viết có tựa đề “Ngày hội non sông và trọng trách trước nhân dân”, mà Báo Công an nhân dân vừa trân trọng giới thiệu, Tổng Bí thư Tô Lâm đã phát đi một lời hiệu triệu sâu sắc, thẳng thắn và đầy kỳ vọng gởi tới những người vừa được nhân dân tin tưởng lựa chọn. Trong đó, thông điệp về “sự cam kết và trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu và đội ngũ cán bộ” giữ vị trí như một “từ khóa” cốt lõi. Đó cũng là lời giải cho bài toán củng cố niềm tin của nhân dân trong kỷ nguyên mới...

Tình trạng một số doanh nghiệp khai thác khoáng sản tại Lâm Đồng cố tình che chắn hệ thống camera giám sát, tự ý mở lối đi mới để vận chuyển cát nhằm né tránh kiểm soát của cơ quan chức năng đang diễn ra phức tạp. UBND tỉnh Lâm Đồng đã chỉ đạo quyết liệt, yêu cầu cơ quan chức năng xử lý dứt điểm, thậm chí xem xét tạm dừng hoạt động đối với các đơn vị vi phạm.

Ngày 20/3, tại Trung tâm hội nghị tỉnh Lào Cai, Tỉnh uỷ Lào Cai tổ chức Hội nghị quán triệt, triển khai thực hiện các giải pháp phấn đấu xây dựng 100% xã, phường không ma tuý trong năm 2026 theo chỉ đạo của Đảng uỷ Công an Trung ương, Bộ Công an và Nghị quyết của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Lào Cai.

Mượn danh “viện thẩm mỹ quốc tế”, thuê diễn viên đóng vai bác sĩ, thậm chí cấu kết với công ty tài chính để ép khách hàng sập bẫy nợ... là những thủ đoạn tinh vi của các nhóm đối tượng bị Công an TP Hồ Chí Minh triệt phá. Đằng sau những lời hứa hẹn “mọc tóc thần kỳ” hay “chữa dứt điểm bách bệnh” là những cái bẫy lừa đảo quy mô lớn, chiếm đoạt hàng chục tỷ đồng của người dân.

Ngày 20/3, Cục Hàng hải và Đường thuỷ Việt Nam thông tin, tính tới nay, có 18 tàu thuộc sở hữu doanh nghiệp Việt Nam (trong đó có 6 tàu treo cờ Việt Nam và 12 tàu treo cờ nước ngoài) đang hoạt động tại khu vực Trung Đông, với 10 tàu nằm trong eo biển Hormuz, 4 tàu gần eo biển và 4 tàu nằm ngoài khu vực eo biển Hormuz. Các tàu và thuyền viên vẫn an toàn.

Từ nội dung đơn kiến nghị của một giảng viên về những vi phạm liên quan đến bà Trương Thị Hồng Hải, Viện trưởng Viện Công nghệ sinh học (CNSH), Đại học (ĐH) Huế đã vào cuộc, tổ chức xác minh làm rõ. Ngày 20/3, ĐH Huế cho biết, ông Bùi Văn Lợi, Phó Giám đốc ĐH Huế vừa ký ban hành thông báo kết quả xác minh các nội dung kiến nghị này.

©2004. Bản quyền thuộc về Báo Công An Nhân Dân.
®Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Báo Công An Nhân Dân.
English | 中文