“Mâm đan, bát đàn” trong văn hóa Quan họ

09:15 02/12/2009
Trên website của Tổng cục Du lịch có bài giới thiệu về làng Quan họ cổ Đào Xá: "Mâm cỗ đãi khách ở tất cả các làng Quan họ gốc có chung đặc điểm là 3 tầng, đều được bày trên mâm đan, bát đàn nhưng mỗi làng lại có những món ăn đặc trưng, riêng biệt và tầng trên cùng thường dành để bày những món ăn riêng có của làng mình…".

Vậy  "Mâm đan, bát đàn" là gì?

Trong cuốn "Không gian văn hóa Quan họ" do ông Lê Danh Khiêm chủ biên - Trung tâm Văn hóa - Thông tin tỉnh Bắc Ninh xuất bản năm 2007 có mục "Văn hóa hành vi trong buổi mời bạn xơi "cơm Quan họ" ( trang 95). Ông Khiêm khẳng định, đã là "cơm Quan họ" là phải "mâm đan, bát đàn" và giải thích: Mâm đan là chiếc mâm tròn, làm bằng gỗ, sơn đỏ (đan nghĩa là đỏ).

Truyền rằng, trong mặt trăng có một cây quế đỏ cao tới năm trăm trượng. Dưới gốc cây luôn có một người ngồi đẵn. Người ấy là Ngô Cương, vốn ở đất Tây Hà, học được phép tiên, bay lên trời. Sau vì có lỗi nên Ngô Cương bị Ngọc Hoàng đại đế phạt, bắt phải chặt được cây đan quế ở cung trăng. Nhưng Ngô Cương đẵn đến đâu thì trời lại hóa phép làm cho liền ngay đến đấy.

Vì thế suốt đời Ngô Cương phải ngồi ở cung trăng để đẵn cây đan quế. Do tích này mà dân gian cũng như văn cổ thường dùng các hình tượng như bóng quế, cung quế, đan quế để chỉ mặt trăng…

Ngô Cương luôn phải đẵn cây đan quế, mà chị Hằng thì ngày ngày mang đến cho Ngô Cương cơm ăn, nước uống. Đó là sự gắn bó nam nữ không biết là qua bao nhiêu nghìn năm. Chính từ hiện tượng này, mà người Quan họ luôn dùng "mâm đan" (mâm gỗ đỏ) để làm cơm thết bạn, biểu hiện tình cảm, tình yêu bền chặt giữa những người Quan họ với nhau.

Bát đàn, nguyên thủy là bát được tiện bằng gỗ cây bạch đàn. Truyện phổ biến ở vùng Quan họ kể, sau khi Trương Chi mất, hồn chàng nhập vào một cây bạch đàn. Quan thừa tướng vô tình mua cây đàn ấy về, sai tiện làm một bộ đồ trà. Mỗi khi Mỵ Nương uống nước, lại nhìn thấy hình tượng Trương Chi trong chén…

Chính vì điển tích này mà các hình tượng chén đàn, bát đàn là tượng trưng cho tình cảm, tình yêu. Trong bữa cơm, người Quan họ dùng "bát đàn"- bát làm bằng gỗ cây bạch đàn- chính là thể hiện tình cảm của Quan họ chủ và Quan họ khách, của liền anh, liền chị Quan họ.

Là một nhà nghiên cứu Quan họ lâu năm, lại là người lăn lộn với phong trào Quan họ cũng như gắn bó với hoạt động của đoàn Quan họ Bắc Ninh một thời gian dài, ý kiến của ông Lê Danh Khiêm ắt hẳn có một sức nặng nhất định. Tuy vậy, theo chúng tôi, giải thích "mâm đan, bát đàn" như vậy có phần khiên cưỡng.

Trong ngôn ngữ giao tiếp, người Quan họ bao giờ cũng khiêm tốn, nhã nhặn và đề cao người đối thoại với mình. Dù các bạn Quan họ ít tuổi hơn mình nhưng cả nam và nữ luôn miệng thưa gửi và xưng là "chúng em". Cách nói năng theo đúng nguyên tắc "hô thì tôn, xưng thì khiêm" như thế, khó có thể xảy ra trường hợp mời khách xơi cơm lại giới thiệu mâm bát nhà mình mang ra bày cỗ là "mâm đan, bát đàn" sang trọng đến thế.

Nghe cả câu mời thì chúng ta càng rõ ý của người Quan họ: "Hôm nay liền chị đã có lòng sang chơi bên đất nước nhà em, anh em nhà em chạy được mâm cơm thì đầu mâm đĩa muối, cuối mâm đĩa vừng, mâm đan, bát đàn  xin mời đương quan họ dựng đũa lên chén để anh em nhà em được thừa tiếp"…(Hồng Thao: "Quan họ - lề lối sinh hoạt và hình thái tồn tại"- Văn nghệ Hà Bắc, số 1, 1991).

Rõ ràng, người Quan họ đã dùng uyển ngữ, lối nói giảm xuống để giới thiệu rằng mâm cỗ mà mình mang ra mời khách rất đơn sơ, đạm bạc, mà thực tế không phải như vậy. Theo Trần Linh Quý - Hồng Thao: "Tùy theo từng làng, cũng có những nét riêng, nhưng nhìn chung, cỗ mời quan họ ăn thường là cỗ to, bày ba dàn trên mâm khi mới bưng lên. ("Tìm hiểu dân ca quan họ" -  NXB Văn hóa dân tộc, Sở Văn hóa - Thông tin Hà Bắc, 1997).

Cỗ bàn đàng hoàng như thế, "cỗ mặn bưng vào, cỗ chay bưng ra", nhưng với tư cách chủ nhà họ không thể nói cỗ có "nem công, chả phượng", "sơn hào hải vị", cũng không thể nói "mâm đồng, bát sứ"  hay "mâm son, bát vàng" quý giá được.

Vậy "mâm đan, bát đàn" là gì?

Theo chúng tôi, mâm đan là thứ mâm đan bằng tre, mâm chõng của nhà nghèo. Còn bát đàn thì chúng ta đã có định nghĩa trong "Từ điển Tiếng Việt" của Viện Ngôn ngữ  do NXB Đà Nẵng và Trung tâm Từ điển học xuất bản năm 2002 là "bát  nông lòng, làm bằng đất nung thô, có tráng men".

Như vậy, đi với bát đàn - đất nung, hẳn phải là mâm đan - tre liếp. Hơn nữa, còn có một thứ ngôn ngữ cùng cách nói nhún nhường là đầu mâm đĩa muối, cuối mâm đĩa vừng (dưa) làm nên một "khí quyển" ngôn ngữ nhún nhường để chứa đựng trong đó biết bao là lịch thiệp, biết bao là tình tứ! 

Cách nói khiêm nhường như thế không chỉ là phong cách riêng của người Quan họ mà là phong cách của cả đồng bằng Bắc Bộ. Hiện nay, về quê dự tiệc, đôi khi chúng ta vẫn thấy vị đại diện gia chủ "có nhời" rằng: "Hôm nay nhà cháu kiếm lưng cơm cúng ông cháu, kính mời cụ lại chơi, xơi với nhà cháu miếng cơm"… hoặc "mời cụ đến xơi với ông cháu chén rượu nhạt ạ".

Vì vậy, theo chúng tôi "mâm đan, bát đàn " chỉ là cách nói khiêm nhường để nói mâm bát thô mộc, thức ăn đạm bạc mà thôi, không liên quan gì đến những điển cố xa vời mà ông Lê Danh Khiêm dẫn dụ

Nguyễn Phan Khiêm

Cao Bằng – mảnh đất địa đầu Tổ quốc với hơn 333 km đường biên giới giáp Trung Quốc không chỉ là nơi giữ gìn chủ quyền thiêng liêng mà còn là địa bàn có dân cư phân tán, đời sống còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí không đồng đều. Trong bối cảnh đó, việc đưa pháp luật đến với người dân vùng cao, biên giới không chỉ là nhiệm vụ thường xuyên mà đã trở thành “chìa khóa” quan trọng để giữ vững an ninh trật tự từ cơ sở.

Mấy hôm nghỉ lễ, tôi lướt mạng xem năm nay “tình hình thế nào”, câu chuyện “bên này, bên kia” đã có gì khác trước, khi mà đất nước đã qua hơn nửa thế kỷ kể từ ngày Chiến thắng 30/4/1975. Và thật buồn khi những giọng điệu ngược lối, trái đường vẫn tái diễn, những chiêu trò như “tưởng niệm ngày quốc hận”, “hội luận tháng tư đen” tiếp tục được các hội nhóm chống phá ở hải ngoại xoáy lại với các hình thức, tính chất, mức độ khác nhau.

Thời gian qua, Công an các đơn vị, địa phương đã làm tốt công tác phòng ngừa, đấu tranh với  tội phạm, vi phạm pháp luật liên quan đến người dưới 18 tuổi. Trong đó, phòng ngừa, đấu tranh nhóm thanh thiếu niên tụ tập, sử dụng vũ khí, hung khí nguy hiểm giải quyết mâu thuẫn, gây rối trật tự công cộng.

Nhiều người chọn phương án trở lại TP Hồ Chí Minh trước lễ 1 ngày để tránh kẹt xe nên tối 2/5 dòng phương tiện từ các tỉnh đổ dồn về 2 cửa ngõ phía Đông và phía Tây. Một lượng lớn phương tiện được giải tỏa trong đêm, tuy nhiên đến chiều cuối kỳ nghỉ lễ (3/5) giao thông tại các cửa ngõ TP Hồ Chí Minh tiếp tục tăng nhiệt…

Từ nhiều năm nay, Cảnh sát giao thông (CSGT) Công an các tỉnh, thành miền Trung cùng Công an và chính quyền các xã, phường phối hợp ngành đường sắt nỗ lực triển khai nhiều biện pháp tăng cường đảm bảo an toàn giao thông (ATGT) đường sắt trên tuyến. Không chỉ đẩy mạnh tuần tra kiểm soát, tăng cường xử lý vi phạm, lực lượng chức năng còn tập trung xóa bỏ lối đi tự mở, xây dựng hầm chui, thiết lập rào chắn hàng trăm đoạn – tuyến gần khu dân cư, xây dựng các mô hình tuyên truyền… Thế nhưng, tình hình trật tự ATGT đường sắt tại một số địa phương vẫn... "nóng".

Trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đồng bào Công giáo Việt Nam với tinh thần “Sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc”, “tốt đời, đẹp đạo”, “kính Chúa, yêu nước”, đã và đang có nhiều đóng góp tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn an ninh, trật tự (ANTT). Đồng hành cùng những đóng góp ấy là dấu ấn bền bỉ, sâu sắc của lực lượng An ninh nội địa Công an nhân dân (CAND). 

Trong khoảnh khắc khó khăn, gian nan của cuộc sống đời thường, những chiến sĩ Công an tỉnh Sơn La lại lặng lẽ trở thành điểm tựa bình yên cho Nhân dân.

©2004. Bản quyền thuộc về Báo Công An Nhân Dân.
®Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Báo Công An Nhân Dân.
English | 中文