Tết ở làng tôi
Người xưa bảo: “Trẻ nhớ nhà, già nhớ làng”. Từ khi bước sang tuổi lục tuần, những ngày giáp tết, tôi thường nhớ về làng tôi. Tôi không nhớ cái làng của ngày hôm nay với nhà cao cửa rộng, đèn điện sáng choang, ôtô, xe máy chạy ầm ầm, son phấn tưng bừng thơm nức nở... Tôi nhớ về những cái tết đói nghèo mà tình nghĩa năm xưa.
Chuyện những người nông dân chu du thế giới
Làng tôi tên chữ là Thượng Liệt, tên tục là làng Giắng. Tôi không biết chữ Giắng có nghĩa gì và cho đến giờ, dù đã hỏi không ít bậc đồ Nho thông thái nhưng tôi cũng chưa thấy ai giải thích và viết cho tôi đúng về cái chữ “nôm na” này. Làng xưa nghèo lắm. Câu ca “Lên Lan, xuống Giắng, về Hà/ Bát cơm đã hẩm, quả cà lại thâm” của nhà thơ Tường Lan ám ảnh tuổi thơ tôi.
Thành hoàng làng tôi là bà Trần Thị Quý Minh, con vua Trần Duệ Tông. Người làng tôi kể lại rằng 3 nàng công chúa Trần Thị Quý Minh, Trần Thị Bảo Hoa và Trần Thị Quang Ánh đau buồn trước cái chết của Đức vua Trần Duệ Tông nơi chiến trận đã từ bỏ kinh thành về quê tôi khai khẩn, lập nên 3 làng: Thượng Liệt, Trung Liệt và Hạ Liệt.
Riêng bà chị cả Trần Thị Quý Minh còn đem về làng tôi nhiều phong tục, tập quán nơi kinh thành cùng với vũ điệu giáo cờ, giáo quạt vô cùng độc đáo. Những năm đầu thập kỷ chín mươi của thế kỷ trước, nữ nghệ sĩ Ea Sola Thủy đã cùng với các lão nông làng tôi và làng An Khê (Quỳnh Phụ, Thái Bình cũ) làm nên vở vũ kịch nổi tiếng "Hạn hán và cơn mưa". Vở vũ kịch đã đưa những vũ công nông dân làng tôi đi gần 20 quốc gia trên thế giới như Pháp, Anh, Ý, Mỹ, Canada, Úc, Phần Lan, Đan Mạch, Thụy Điển, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng Kông… và tạo nên tiếng vang lớn trên nhiều sân khấu thế giới.
Từ trăm năm trước, vũ hội tân xuân của làng tôi được tổ chức từ ngày 10 đến hết 12 tháng Giêng hằng năm. Đến năm 1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ, lễ hội ngừng hoạt động và đến năm 1985 thì được phục hồi. Nhờ quần thể di tích đình - chùa - lăng và đặc biệt là điệu múa giáo cờ - giáo quạt độc đáo mà khu di tích đình - chùa - lăng của làng tôi được cấp bằng công nhận Di tích văn hóa ngay đợt đầu tiên.
Là người khai khẩn, truyền tải văn minh đô thành về miền đất hoang vu này nên khi mất bà được dân làng suy tôn là Thành hoàng. Do húy kị, người làng tôi không bao giờ nói "quý" và "minh" mà thường nói chệch thành "quế" và "miêng". Khi có khách đến chơi nhà, người làng tôi thường bảo: “Hôm nay thanh miêng, bác đến thăm nhà em thế này là quế hóa lắm…”.
Kiêng kị 3 ngày tết và bữa cơm tất niên
Làng tôi có nhiều kiêng kị khá lạ, nhất là vào những ngày đầu năm mới. Trong ba ngày tết, người làng tôi kiêng kị rất kỹ. Đầu tiên là việc xông nhà. Những người học hành giỏi giang, làm ăn phát đạt, công danh tiến bộ được mời đến xông nhà. Anh trai tôi là người đầu tiên học đại học của làng nên thường được mời xông nhà sáng mồng Một Tết.
Mẹ luôn dặn chúng tôi trong ba ngày tết không được quét nhà dù bẩn cũng phải chịu vì "của cào vào không có, có của đổ đi". Không những thế, người còn bảo quét nhà ngày mồng Một thì sinh ra nhiều kiến. Không biết lũ kiến vàng, kiến đen, kiến đỏ thì có liên quan gì đến việc quét nhà? Mẹ còn dặn không được cắt móng chân, móng tay vì làm như vậy là "sái". Cả việc chải đầu cũng không được làm vào sáng mồng Một vì sợ... rắc rối cả năm. Đặc biệt là mẹ tôi nghiêm cấm việc vay mượn, xin xỏ, nhờ vả người khác trong ba ngày tết vì sợ “giông” cho họ.
Năm nào cũng vậy, cứ vào độ cuối thu, khi những cơn gió heo may từ sông Hồng tràn qua bờ đê leo lên vòm cây làm rụng những chiếc lá vàng trên bờ hồ Hoàn Kiếm, tôi thường nao nao một nỗi nhớ làng, nhớ mẹ. Thế nhưng năm nay, tôi không còn mẹ để được nhớ nữa. Mẹ tôi đã về cùng tiên tổ ở tuổi 92 vào đúng thời điểm mà hàng năm khi còn sống, mẹ thường bắt tay gấp rút chuẩn bị cho bữa cơm tất niên.
Đó là bữa cơm chia tay năm cũ, chào đón năm mới và chờ đợi những đứa con đi làm ăn xa, lưu lạc các phương trời trở về căn nhà của mẹ, nơi có hương hồn ông bà, tiên tổ. Bữa cơm ấm áp, thiêng liêng này rất được người làng tôi coi trọng nên mọi sự sơ suất đều là thất thố lớn. Những cô gái làng khác về làng tôi làm dâu một trong những điều đầu tiên được các bà mẹ chồng truyền bảo là phương cách sắp bữa cơm tất niên ngày tết.
Những năm trước khi còn khoẻ mạnh, vào đầu vụ gặt tháng mười, mẹ tôi đã chọn một đám lúa chín sớm nhất, trĩu hạt nhất đem về phơi thật se dưới cái nắng hanh đầu mùa rồi cho vào chum sành, ủ bên trên bằng một lớp dày lá chuối hột khô chờ đúng đến chiều 29 - 30 tết mới được đem xay giã. Mẹ thường bảo làm thế thóc hãy còn "tươi" nên đượm và thơm mùi lúa mới.
Để nấu nồi cơm này, mẹ tôi còn chuẩn bị kỹ cả củi đun. Đó phải là rơm của những ruộng lúa nếp không rạp đổ, phơi thật khô. Từ nhỏ, tôi rất thích được ngắm mẹ khi người nấu cơm cúng Tết. Trong cái rét căm căm của châu thổ sông Hồng, khuôn mặt mẹ thường ngày tím tái vì thiếu đói và bươn chải nuôi con giờ hồng rực lên như thời con gái.
Bố tôi bảo ngày xưa mẹ đẹp có tiếng ở làng và bố tôi rất yêu mẹ. Với tôi, hình ảnh bố, một cụ già 90 tuổi bế đầu một cụ già 92 tuổi trên đùi vừa bóp đầu vừa kể chuyện cho mẹ tôi nghe trước ngày mẹ tôi mất ít lâu như một khắc họa thiêng liêng, bất tử của tình yêu. Mẹ lấy bố khi mới 11 tuổi (bố tôi lên 9) và đến khi trút hơi thở cuối cùng, Người đã có 81 năm làm con dâu ông bà tôi, làm vợ bố tôi và điều đó cũng có nghĩa là mẹ đã 81 lần làm bữa cơm tất niên chào năm mới.
Về thức ăn, mẹ tôi càng chuẩn bị kỹ hơn. Nhất là với con gà để cúng đêm trừ tịch. Đó phải là chú gà trống chớm tuổi trưởng thành. Nó không còn là gà nhiếp nhưng cũng chưa đến tuổi te tái đuổi theo ả gà mái tơ nhà hàng xóm. Trước khi đặt lưỡi dao sáng loáng vào cổ con gà để cắt tiết, bao giờ mẹ tôi cũng nói câu thần chú quen thuộc: "Tao hóa kiếp cho mày để mày thành kiếp khác". Cho đến tận những năm bốn mươi tuổi, tôi còn rất sợ câu "thần chú" này. Nhưng khi đã bước sang tuổi ngũ tuần, tôi mới hiểu được ẩn ý sâu thẳm của câu "thần chú thiêng liêng" đó. Đối với đám bắp cải, su hào thì bao giờ cũng là những cây tốt nhất, củ to nhất trong vườn được mẹ để dành lại.
Bữa cơm tươm tất được đưa lên khấn vái xong, chờ cho những nén hương tắt hẳn để thay một chầu hương mới, mẹ tôi trịnh trọng bê mâm xuống, mời bố tôi khi đó đang mài mực để lát nữa khai bút đầu xuân rồi đánh thức những đứa con còn ngủ rốn dậy và cả nhà quây quần bên mâm cơm. Trong đêm giao hòa của giời đất, cái khí trời se se lạnh xứ Bắc níu giữ mùi hương trầm bảng lảng như không muốn cho bay đi... Những món ăn nóng hổi được chắt từ giọt mồ hôi tần tảo của mẹ tôi từ nhiều tháng trước càng khiến bữa cơm thiêng liêng một cách kỳ diệu.
Sáng mồng Một Tết, người thường đưa chúng tôi ra đình thắp hương lễ tạ Thành hoàng làng vì một năm mưa thuận, gió hòa làm ăn suôn sẻ.
Câu thơ mới đã trở thành “cổ tích”
Tôi xa làng đã hơn nửa thế kỉ, thỉnh thoảng mới về quê nhưng tâm hồn và trái tim luôn hướng về làng nên cảm nhận rất rõ sự đổi thay của quê mình. Từ ngày sáp nhập tỉnh, tuy cũng có chút ưu tư nhưng niềm tin và hy vọng đã lấn át. Kế hoạch làm con đường cao tốc 10 làn nối TP Thái Bình cũ vừa được phê chuẩn. Tuyến đường ven biển cũng sắp khánh thành. Quê tôi giờ một đầu nối với Thủ đô, một đầu nối với Biển Đông chắc chắn sẽ là một lợi thế không nhỏ. Mai đây, khi Diêm Điền được xây dựng thành cảng nước sâu, đường cao tốc hoàn thành, chắc chắn nhiều và rất nhiều khu công nghiệp nữa sẽ tiếp tục mọc lên.
Người dân làng tôi sẽ sẵn công ăn việc làm, thu nhập ngày càng cao, câu ca dao “Thái Bình là đất ăn chơi…” sẽ mãi mãi trở thành cổ tích, không còn mang nỗi niềm mà để đọc cho vui bên những bàn trà, tiệc rượu.
Nói những điều trên, không phải là tôi không nhận thấy không ít người dân làng tôi cũng như người dân cả nước nhiều nơi còn lắm những khó khăn, vất vả nhưng tôi tin và hy vọng về một tương lai tươi sáng của đất nước Việt Nam.
Chợt nhớ bài thơ tôi viết về làng cách đây chưa lâu in trên Sách giáo khoa lớp 3 tập 2 bộ Cánh diều có đoạn: “Những con đường lầy lội - Giờ đã rộng thênh thang - Cần ăng-ten đón gió - Vắt câu chèo sang ngang…” thì câu thứ ba “Cần ăng ten đón gió” đã trở thành “cổ tích” vì cả làng đã chuyển sang đường truyền cáp, chả còn cái cột ăng ten nào mà đón gió.
Làng tôi đã và đang đổi thay từng ngày, no đủ hơn, giàu có hơn nhưng trong tôi luôn hiện về hình ảnh làng tôi thuở xa xưa với rất nhiều kiêng kị và huyền thoại.