Giải bài toán đảm bảo chất lượng sống cho người dân
Tại kỳ họp thứ 31 được tổ chức ngày 27/1 vừa qua, HĐND TP Hà Nội ban hành Nghị quyết thông qua các nội dung chính của Quy hoạch tổng thể Thủ đô với tầm nhìn 100 năm. Điểm đáng chú ý là Hà Nội dự kiến sẽ di dời hơn 860.000 người dân từ Vành đai 3 trở vào. Việc di dời này đặt ra bài toán giải quyết chất lượng sống của người dân, đảm bảo nơi ở mới chất lượng tốt bằng hoặc hơn nơi ở cũ.
Theo UBND TP Hà Nội, tái cấu trúc đô thị không đơn thuần là điều chỉnh không gian xây dựng, mà hướng tới một cuộc "cách mạng toàn diện" về kiến trúc - cảnh quan, nhà ở và di sản đô thị. Tư duy bảo tồn cũng được xác định chuyển từ mô hình "bảo tồn - cải tạo" sang "tái thiết giá trị", vừa giữ gìn bản sắc, vừa nâng cao chất lượng sống.
Về phạm vi, tái cấu trúc đô thị Hà Nội được xác định chủ yếu từ Vành đai 3 trở vào, trong đó ưu tiên khu vực Vành đai 1 và Vành đai 2, nơi tập trung mật độ dân cư cao, hạ tầng quá tải và nhiều không gian di sản đặc thù. Các khu vực trọng điểm gắn với tái cấu trúc bao gồm: Trung tâm chính trị, hành chính Ba Đình; khu vực hồ Gươm và phụ cận; khu phố cổ, phố cũ; hồ Tây và vùng phụ cận; cùng trục cảnh quan hai bên sông Hồng.
Lộ trình được UBND TP đưa ra sẽ gồm 3 giai đoạn. Giai đoạn 2026-2035, Hà Nội dự kiến di dời khoảng 200.000 người tại khu vực sông Hồng, 200.000 người tại hồ Tây và vùng phụ cận, 42.000 người tại một số tuyến phố trong phạm vi Vành đai 3. Sang giai đoạn 2036-2045, quy mô di dời tiếp tục mở rộng, gồm 26.730 người tại khu phố cổ, 23.000 người tại khu phố cũ, 370.000 người tại các khu vực còn lại trong Vành đai 3. Tính chung trong giai đoạn 2026-2045, tổng số người dân được bố trí lại chỗ ở để phục vụ tái cấu trúc đô thị lên tới hơn 860.000 người.
Song song với việc di dời, Hà Nội xác định tái cấu trúc dân cư theo hướng giãn dân nội đô, giảm áp lực cho khu vực trung tâm. Người dân thuộc diện giải tỏa sẽ được bố trí tái định cư một phần tại chỗ, phần còn lại tại các khu đô thị mới thuộc các cực tăng trưởng như Đông Anh, Gia Lâm, Hòa Lạc. Những khu vực này được định hướng đầu tư đồng bộ hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội, với hệ thống trường học, bệnh viện, công viên, dịch vụ công cộng đầy đủ, nhằm bảo đảm điều kiện sống tốt hơn hoặc ít nhất tương đương nơi ở cũ.
Về nguồn lực, tổng nhu cầu vốn cho tái cấu trúc đô thị giai đoạn 2026-2045 ước khoảng 64,84 triệu tỷ đồng. Trong đó, giai đoạn 2026-2035 cần khoảng 14,5 triệu tỷ đồng, giai đoạn 2036-2045 cần 50,34 triệu tỷ đồng, với sự tham gia chủ đạo của khu vực tư nhân và nguồn lực xã hội, bên cạnh đầu tư công cho hạ tầng thiết yếu và an sinh.
Về phương án tái định cư, người dân thuộc diện giải tỏa, di dời một phần được bố trí tái định cư tại chỗ, một phần tái định cư trong các khu đô thị mới ở các cực tăng trưởng như Đông Anh, Gia Lâm, Hòa Lạc... Các khu vực tái định cư này được định hướng đầu tư đầy đủ hạ tầng xã hội, bao gồm trường học, bệnh viện, công viên, nhằm đảm bảo chất lượng sống tốt hơn nơi ở cũ.
Mô hình "chùm đô thị hướng tâm" và 9 siêu trung tâm quy hoạch cũng xác định cấu trúc Vùng đô thị Hà Nội với 9 cực tăng trưởng và 9 trung tâm lớn, gắn với 9 trục không gian và hành lang kinh tế bám theo các trục giao thông huyết mạch.
Theo đó, quy hoạch 9 cực tăng trưởng, gồm: Đô thị trung tâm (hữu ngạn sông Hồng); cực phía Bắc (Đông Anh - Mê Linh - Sóc Sơn); cực phía Đông (Gia Lâm - Long Biên); cực phía Nam - đô thị trung tâm (Thường Tín - Phú Xuyên). Cực phía Nam là đô thị Vân Đình - Đại Nghĩa; cực phía Tây Nam (Xuân Mai - Chương Mỹ); cực phía tây (Hòa Lạc); cực phía Tây Bắc (đô thị Sơn Tây - Ba Vì); cực sông Hồng (không gian cảnh quan đặc biệt, tài chính, du lịch…).
Theo TS.KTS Đào Ngọc Nghiêm, Phó Chủ tịch Hiệp hội Quy hoạch và Phát triển đô thị Việt Nam nhận định, so với cách tiếp cận trước đây, đây là một bước đột phá về quy mô và tầm nhìn không gian. Việc đưa ra 9 trung tâm lớn là một "định hướng quy hoạch có tầm vóc rộng hơn nhiều so với trước đây", gắn với bối cảnh phát triển dài hạn chứ không chỉ là kế hoạch theo nhiệm kỳ lãnh đạo hay mục tiêu ngắn hạn…
"Những định hướng như mở rộng trục phát triển sông Hồng trở thành xương sống không gian đô thị, hay phát huy vai trò các cực phát triển ở khu vực ngoại vi như Nội Bài, Hòa Lạc… cho thấy nỗ lực tái định hình bản đồ phát triển của Thủ đô theo hướng đa cực - đa trung tâm với cấu trúc không gian được tổ chức lại một cách đồng bộ và có chiều sâu", TS.KTS Đào Ngọc Nghiêm nói.
Cũng theo ông Đào Ngọc Nghiêm, qua Quy hoạch tổng thể Thủ đô với tầm nhìn 100 năm, Hà Nội đang thể hiện sự linh hoạt và chủ động rất rõ trong công tác quy hoạch và phát triển đô thị. Chỉ trong tháng 12/2024, Chính phủ đã phê duyệt cho Thủ đô hai quy hoạch quan trọng: Quy hoạch Thủ đô thời kỳ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và Quy hoạch chung Thủ đô điều chỉnh đến năm 2045, tầm nhìn đến năm 2065.
Điểm đặc biệt là mới đây, với sự thống nhất của Chính phủ, Hà Nội đã tiến thêm một bước khi hợp nhất hai quy hoạch này thành một hệ quy hoạch tổng thể, có tầm nhìn và chất lượng cao hơn. Nếu như trước đây, quy hoạch đô thị chủ yếu đặt trong khung định hướng 40-50 năm, thì nay Hà Nội đã mạnh dạn đặt ra tầm nhìn phát triển đô thị tới 100 năm. Đây là một bước đổi mới rất căn bản trong tư duy quy hoạch.
Liên quan đến việc di dân tại khu vực phố cổ, TS.KTS Đào Ngọc Nghiêm chia sẻ, đây không phải là vấn đề lần đầu được đề cập đến. Trong Đề án di dân phố cổ để tái thiết đô thị từ năm 1998 đã đề cập đến giãn dân nhưng đến nay không thực hiện được bao nhiêu. Việc di dân ở trong đô thị trung tâm TP, nhất là những khu di sản đặc thù, như khu Ba Đình, khu phố cổ, khu vực hồ Gươm đặt ra thách thức lớn. Bài toán đặt ra phải nghiên cứu giải quyết cuộc sống cho người dân như thế nào. Tái định cư nơi khác hay tái định cư tại chỗ? Tiếp theo là giải quyết chất lượng sống cho một số đối tượng không thích hợp ở trong khu đô thị trung tâm.