Cần cơ chế chính sách phù hợp để đại học vùng phát triển xứng tầm

07:13 01/12/2025

Một trong những vấn đề được dư luận quan tâm tại Dự thảo Luật Giáo dục Đại học sửa đổi là mô hình đại học vùng. Trong bối cảnh tổ chức, sắp xếp lại hệ thống giáo dục đại học theo hướng tinh gọn, hiệu quả, giảm bớt khâu trung gian như tinh thần của Nghị quyết 71, nhiều ý kiến đề xuất cần đánh giá kỹ lưỡng về vị trí, vai trò và hiệu quả hoạt động của mô hình đại học vùng, trên cơ sở đó nghiên cứu, thiết kế, tổ chức lại cho phù hợp để các đại học vùng phát triển xứng tầm với yêu cầu, nhiệm vụ.

Năm 1994, khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, các nhà hoạch định chính sách giáo dục nước ta đã có một quyết định mang tính chiến lược: Thành lập các đại học vùng. Đây không chỉ là một bước đi táo bạo trong cải cách giáo dục đại học mà còn thể hiện tầm nhìn xa trông rộng về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Xây dựng các đại học vùng thực sự mạnh để đóng vai trò dẫn dắt. Ảnh minh họa

Mô hình đại học vùng nhằm tập trung nguồn lực, tạo ra những trung tâm đào tạo và nghiên cứu lớn tại các vùng kinh tế trọng điểm, từ đó góp phần phát triển đồng đều giáo dục đại học giữa các vùng miền. Trải qua hơn 30 năm xây dựng và phát triển, mô hình đại học vùng đã chứng minh được tính ưu việt và sự phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam.

Các đại học vùng như Đại học Đà Nẵng, Đại học Thái Nguyên, Đại học Huế đã đóng góp lớn vào việc đào tạo nguồn nhân lực tại địa phương, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của vùng, và tạo điều kiện cho các trường thành viên phát triển độc lập và hiệu quả hơn. Mô hình này cũng giúp thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao cho các vùng chậm phát triển, đảm bảo công bằng xã hội, và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Mặc dù có nhiều đóng góp song mô hình này cũng đang bộc lộ một số bất cập khi các đại học vùng hiện nay đang trở thành cấp trung gian hành chính.

Các trường đại học thành viên của đại học vùng vẫn bị ràng buộc bởi cơ chế “hai tầng” phải trình qua đại học vùng rồi mới đến bộ trong các thủ tục đầu tư, mở ngành, hợp tác quốc tế, dẫn tới mất cơ hội và tính linh hoạt. Mặt khác, thương hiệu đại học vùng cũng chưa được nhận diện rõ ràng, làm hạn chế năng lực cạnh tranh, ảnh hưởng đến xếp hạng và hợp tác quốc tế. Điều này có phần mâu thuẫn, thậm chí đi ngược với tinh thần Nghị quyết 71 về xoá bỏ cấp trung gian, bảo đảm quản trị tinh gọn, thống nhất, hiệu quả cho hệ thống giáo dục đại học…

Chia sẻ với PV Báo CAND về vấn đề này, TS Lê Viết Khuyến, nguyên Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học, Bộ GD&ĐT cho rằng, trải qua hơn 30 năm xây dựng và phát triển cả 3 đại học vùng gồm Đại học Thái Nguyên, Đại học Huế, Đại học Đà Nẵng đều có những bước đi vững chắc, những tiến bộ vượt bậc và đã có những đóng góp quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội của đất nước nói chung cũng như cho từng vùng kinh tế nói riêng.

Tuy nhiên, dù được thiết kế với mô hình đại học đa lĩnh vực song do trên thực tế các đại học vùng vẫn chỉ tồn tại dưới dạng của một “liên hiệp các trường đại học chuyên ngành” với cấu trúc “đại học hai cấp”, trong đó các trường thành viên vẫn hoạt động gần như độc lập, không phối hợp với nhau, trước hết là về mặt đào tạo nên trong những năm qua, đại học vùng chưa có được sức mạnh tổng hợp thật sự như mong đợi của người học và xã hội.

Để thúc đẩy các đại học vùng phát triển phù hợp trong bối cảnh mới, TS Lê Viết Khuyến đề nghị Chính phủ sớm ban hành Nghị định mới cho các Đại học Quốc gia và đại học vùng, trong đó cần chỉ rõ sứ mệnh của từng loại đại học, quy định các đại học này phải thay đổi cơ cấu theo hướng chuyển đổi ngay từ mô hình Liên hiệp các trường đại học chuyên ngành qua mô hình đại học đa lĩnh vực đích thực, có sự phân công, phân cấp hợp lý giữa đại học và các trường thành viên, bảo đảm phát huy tính chủ động và thế mạnh của từng trường, cùng với sức mạnh tổng hợp chung của cả đại học.

Bên cạnh đó, chiến lược phát triển của đại học vùng cũng phải gắn liền với chiến lược phát triển kinh tế, xã hội của vùng theo hướng đại học vùng và vùng cùng phát triển song hành với nhau; chỉ khi vùng đạt được trình độ phát triển chung của cả nước, Nhà nước mới nên đặt vấn đề chuyển đổi sứ mệnh cho đại học vùng. Ngoài ra, do các đại học vùng chỉ thành lập ở những vùng chậm phát triển về kinh tế, xã hội nên rất cần được ưu tiên đầu tư ngân sách nhà nước và hạn chế vận dụng Nghị định 60 về tự chủ tài chính cho loại hình đại học này, đồng thời xây dựng cơ chế để các đại học vùng được tự chủ hoàn toàn về cả 3 phương diện gồm học thuật, tổ chức, nhân sự và tài chính.

Đại biểu Quốc hội Trần Thị Nhị Hà, Đoàn TP Hà Nội cũng cho rằng, trong bối cảnh cả nước đang đẩy mạnh chuyển đổi số và tiến hành sắp xếp lại hệ thống cơ sở giáo dục đại học theo tinh thần Nghị quyết 71 với yêu cầu tinh gọn bộ máy, xóa bỏ cấp trung gian thì việc tiếp tục quy định mô hình đại học vùng như một cấu trúc riêng trong luật sẽ không còn phù hợp. Do đó, cần phân định lại hệ thống cơ sở giáo dục đại học theo thông lệ quốc tế và phù hợp với thực tiễn Việt Nam theo hướng chỉ nên xác lập hai mô hình cơ bản: Đại học đa ngành, đa lĩnh vực và đại học chuyên ngành đối với những lĩnh vực đặc thù. Trong đó, các đại học vùng có thể được sắp xếp vào mô hình đại học đa ngành, đa lĩnh vực.

Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Kim Sơn khẳng định, các đại học vùng có vai trò đóng góp quan trọng trong đào tạo và nghiên cứu suốt thời gian qua. Trong các nghị quyết của Đảng như Nghị quyết 29-NQ/TW, Kết luận 21-KL/TW và 6 Nghị quyết vùng cũng như các Nghị quyết khác của Đảng đều nhấn mạnh việc cần phát triển các Đại học Quốc gia và đại học vùng thực sự mạnh để đóng vai trò dẫn dắt, đầu tàu trong hệ thống giáo dục quốc dân.

“Thực tế nếu chúng ta xét thấy mô hình đại học vùng còn những điểm khiếm khuyết, bên trong đó còn những vấn đề của khâu trung gian thì chúng ta cần khảo sát và đánh giá như tinh thần của Nghị quyết số 71 yêu cầu giảm khâu trung gian. Với vai trò là cơ quan soạn thảo dự thảo Luật giáo dục đại học sửa đổi, Bộ GD&ĐT sẽ tiến hành xem xét để đánh giá về nội dung này trên tinh thần khoa học, thận trọng và kỹ lưỡng”-Bộ trưởng Nguyễn Kim Sơn cho hay.

Huyền Thanh

Sau khi Báo CAND đăng tải loạt bài phản ánh, UBND tỉnh Quảng Trị và Công ty TNHH Sơn Hải Thủy điện Quảng Trị đã liên tiếp có các văn bản liên quan đến đề xuất nạo vét, tận thu khoáng sản tại Thủy điện Đakrông 4. Đáng chú ý, doanh nghiệp đề nghị rút hồ sơ để điều chỉnh lại phương án thu hồi cát; còn UBND tỉnh yêu cầu các sở, ngành liên quan rà soát toàn diện về sự cần thiết, quy mô và quy trình thực hiện trước khi xem xét, quyết định.

Chiều 26/3, Bệnh viện Đa khoa Trung ương (BVĐKTƯ) Cần Thơ cho biết các bác sĩ (BS) Khoa Nội soi vừa thực hiện kỹ thuật nội soi mật tụy ngược dòng (ERCP), lấy thành công dị vật là một xương cá dài 3cm đâm xuyên dạ dày vào đường mật, gây gián đoạn dòng chảy của mật, dẫn đến viêm đường mật, đau bụng kéo dài.

Những thông điệp đối nghịch phát đi từ Washington và Tehran đang bộc lộ sự khác biệt rõ nét trong tiến trình hướng tới một thỏa thuận ngừng bắn tại Trung Đông. Trong khi phía Mỹ đưa ra các tín hiệu tích cực, Iran lại khẳng định giờ chưa phải lúc. Theo giới chuyên gia, sự “lệch pha" này phản ánh lộ trình hòa bình tại khu vực không chỉ phụ thuộc vào thiện chí chính trị, mà còn chịu tác động sâu sắc từ lợi ích chiến lược và diễn biến phức tạp trên thực địa.

Song song với những ý niệm về các hệ lụy đã trở nên quen thuộc với bất cứ ai, khi căng thẳng địa chính trị ảnh hưởng trầm trọng đến khả năng vận hành trơn tru của hệ thống kinh tế - xã hội toàn cầu, có một khía cạnh bi thương khó cảm nhận hơn: Sự phác họa và hình thành những cuộc khủng hoảng nhân đạo mới, bên cạnh sự cùng quẫn trong các bi kịch vẫn còn chưa khép lại - điều thường bị che khuất và lãng quên.

©2004. Bản quyền thuộc về Báo Công An Nhân Dân.
®Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Báo Công An Nhân Dân.
English | 中文