Mỗi sản phẩm sẽ có một “căn cước số”
Đây một trong những nội dung đáng chú ý trong dự thảo Nghị định của Chính phủ quy định về hoạt động định danh, xác thực, truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hoá được thảo luận tại hội thảo lấy ý kiến góp ý cho dự thảo Nghị định được Trung tâm dữ liệu quốc gia (Bộ Công an) tổ chức chiều 27/3.
Tại hội thảo nhiều ý kiến các chuyên gia, đại diện các bộ ngành, doanh nghiệp đều khẳng định rằng, đây là bước đi chiến lược nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và thúc đẩy kinh tế số.
Cấp thiết minh bạch thông tin sản phẩm
Theo Đại tá Phạm Minh Tiến, Phó Giám đốc Trung tâm dữ liệu quốc gia, trong bối cảnh thương mại điện tử phát triển mạnh mẽ và chuỗi cung ứng ngày càng đa tầng, yêu cầu về minh bạch thông tin sản phẩm và truy xuất nguồn gốc đã trở thành vấn đề sống còn của thị trường. “Đảng và Nhà nước đã xác định rõ chủ trương phát triển hạ tầng dữ liệu quốc gia, đưa dữ liệu trở thành nguồn lực quan trọng để quản lý chất lượng và phòng chống hàng giả. Việc xây dựng Nghị định này không chỉ đáp ứng yêu cầu thực tiễn mà còn là bước cụ thể hóa các quy định của Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa (sửa đổi 2025), Luật Dữ liệu (2024) và Luật Giao dịch điện tử (2023)”, Đại tá Phạm Minh Tiến nói về sự cần thiết ban hành Nghị định.
Một trong những điểm đáng chú ý nhất của dự thảo là mục tiêu tạo lập hạ tầng dữ liệu thống nhất, có khả năng liên thông trên không gian số, thay vì chỉ phục vụ truy xuất nguồn gốc theo cách truyền thống. Đại tá Phạm Minh Tiến khẳng định, cơ quan soạn thảo đã thiết kế các quy định nhằm hạn chế tối đa tác động bất lợi đến hoạt động sản xuất, kinh doanh. Cụ thể, dự thảo không yêu cầu doanh nghiệp phải kê khai lại thông tin từ đầu hoặc bắt buộc đầu tư hệ thống công nghệ mới tốn kém. Thay vào đó, doanh nghiệp được phép kết nối tự động thông qua các giao diện lập trình ứng dụng (API) với hệ thống quản trị sẵn có như: Quản lý kho, logistics. Cơ chế này cũng cho phép cập nhật dữ liệu linh hoạt trong vòng 24 giờ, bảo đảm không trùng lặp và giảm thiểu chi phí tuân thủ.
Thiếu tá Đào Đức Triệu, Giám đốc Trung tâm Sáng tạo, khai thác dữ liệu (Trung tâm dữ liệu quốc gia, Bộ Công an) cho rằng, đây là một bước chuyển quan trọng trong cách tiếp cận quản lý dữ liệu. Thay vì duy trì tình trạng mỗi tổ chức, đơn vị tự xây dựng một hệ thống riêng lẻ, thiếu tính liên kết, dự thảo Nghị định hướng tới việc thiết lập một nền tảng thống nhất, tập trung. Mục tiêu cốt lõi là tạo ra khả năng liên thông, xác minh truy vết và khai thác dữ liệu không chỉ cho cơ quan nhà nước mà cho toàn bộ nền kinh tế.
Thiếu tá Đào Đức Triệu cho hay, một trong những nội dung đáng chú ý nữa của dự thảo là khái niệm về mã định danh sản phẩm hàng hóa. Tương tự như mỗi công dân có một mã định danh duy nhất, trong tương lai, mỗi sản phẩm cũng sẽ được cấp một mã định danh duy nhất và tồn tại suốt vòng đời của nó. Hệ thống này cho phép truy vết mọi giai đoạn của sản phẩm, từ lúc hình thành, lưu thông trên thị trường cho đến khi được sử dụng hết. “Cùng với đó, Nghị định này còn là "lá chắn" chống hàng giả. Để đảm bảo tính toàn vẹn và minh bạch của dữ liệu, nền tảng quốc gia sẽ được xây dựng trên các công nghệ lõi tiên tiến như chuỗi khối (Blockchain) và trí tuệ nhân tạo (AI). Việc ứng dụng Blockchain giúp dữ liệu không thể bị sửa xóa trái phép, tạo ra khả năng truy vết độc lập và tin cậy.”, Thiếu tá Đào Đức Triệu cho hay.
Dự thảo Nghị định gồm 8 chương và 40 điều, được thiết kế theo logic chặt chẽ từ nguyên tắc chung đến hạ tầng kỹ thuật và trách nhiệm quản lý. Điểm mới nổi bật là mô hình quản lý không chồng lấn chức năng giữa các bộ ngành, tuân thủ nguyên tắc "rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm". Bộ Công an sẽ chủ trì về hạ tầng kết nối và bảo đảm an ninh hệ thống.
Bảo vệ người tiêu dùng và doanh nghiệp làm ăn chân chính
Đại diện Bộ Khoa học và Công nghệ, ông Trần Đăng Khoa, Phó Chủ tịch Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia cho rằng việc xây dựng nền tảng định danh và xác thực điện tử là cần thiết, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và nâng cao tính minh bạch. Tuy vậy, về tính khả thi, ông Khoa đề xuất chỉ nên áp dụng bắt buộc truy xuất nguồn gốc đối với nhóm hàng hóa có rủi ro cao hoặc thực hiện theo lộ trình cụ thể của từng ngành. “Chúng sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Bộ Công an để hoàn thiện hồ sơ dự thảo, đảm bảo đúng quy định pháp luật và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của người dân và doanh nghiệp”, ông Khoa nói.
Trong khi đó, đại diện Cục Phát triển và Quản lý thị trường trong nước (Bộ Công thương) kỳ vọng Nghị định này sẽ là công cụ chống hàng giả hiệu quả. Có thể coi đây là khung pháp lý cần thiết để củng cố cấu trúc quản lý thị trường. “Đối với công tác quản lý thị trường, từ trước đến nay, việc chống hàng giả, hàng nhái chủ yếu dựa trên các biện pháp nghiệp vụ thủ công để kiểm tra và xử lý vi phạm. Do đó, một hệ thống truy xuất nguồn gốc chính thống được kỳ vọng sẽ trở thành công cụ kỹ thuật cực kỳ quan trọng, giúp đơn giản hóa quy trình kiểm tra và nâng cao hiệu quả xử lý hành chính”, đại diện Cục Phát triển và Quản lý thị trường trong nước cho hay. Góp ý xây dựng dự thảo, đại diện Cục Phát triển và Quản lý thị trường trong nước cho rằng, cần có hướng dẫn chi tiết về việc phân quyền truy cập và khai thác thông tin. Việc chia sẻ dữ liệu cần dựa trên nguyên tắc phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng bộ, ngành để đảm bảo dữ liệu được sử dụng đúng mục đích và hiệu quả.
Góp ý xây dựng Nghị định, Phó Cục trưởng Cục việc làm (Bộ Nội vụ) Nguyễn Thế Long cho rằng trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng như hiện nay, dòng thương mại sản phẩm và hàng hóa giữa các quốc gia đang chuyển dịch mạnh mẽ. Việc thực hiện các hiệp định thương mại tự do đòi hỏi sự đánh giá khắt khe về chuỗi cung ứng, khiến việc hoàn thiện khung pháp lý về nguồn gốc hàng hóa trở thành một yêu cầu bắt buộc và kịp thời. “Tuy nhiên, để đảm bảo tính thực tiễn và sự đồng bộ của hệ thống pháp luật, chúng tôi cho rằng, dự thảo Nghị định cần có tính thống nhất với các pháp luật chuyên ngành hiện hành. Cần xác định rõ mức độ ưu tiên và hạn chế việc áp dụng bắt buộc đại trà ngay từ giai đoạn đầu để các doanh nghiệp có thời gian thích nghi”, ông Long kiến nghị.
Ở góc độ doanh nghiệp, bà Nguyễn Việt Hà, Chánh văn phòng Hiệp hội doanh nghiệp Dược Việt Nam cũng kiến nghị cần có lộ trình cụ thể cho quy định truy xuất nguồn gốc hàng hóa. Đại diện Hiệp hội doanh nghiệp Dược Việt Nam khẳng định sự nhất trí cao với các cơ quan soạn thảo về sự cần thiết của việc ban hành Nghị định này. Trong bối cảnh thị trường hiện nay, việc tăng cường quản lý, phòng chống hàng giả, hàng kém chất lượng và xác định rõ nguồn gốc xuất xứ là yêu cầu cấp thiết để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cũng như uy tín của các doanh nghiệp làm ăn chân chính.
“Với một tổ chức đại diện cho hơn 200 doanh nghiệp và hơn 100 cơ sở sản xuất, những đơn vị chịu tác động trực tiếp và mạnh mẽ từ các quy định này, chúng tôi rất quan tâm đến thời điểm áp dụng và lộ trình thực hiện. Cùng với đó, việc áp dụng truy xuất nguồn gốc nên được thực hiện theo từng nhóm hàng hóa cụ thể, thay vì áp dụng đồng loạt ngay lập tức cho tất cả. Cần quy định rõ những mặt hàng nào bắt buộc triển khai trước, đặc biệt là các nhóm hàng hóa có nguy cơ cao, đồng thời phải gắn liền với năng lực thực tế của Trung tâm dữ liệu quốc gia, bà Hà nêu ý kiến.
Tại hội thảo, ban soạn thảo đã nhận được nhiều ý kiến đóng góp xây dựng từ các chuyên gia, đại diện các bộ ngành, doanh nghiệp, Đại tá Phạm Minh Tiến, Phó Giám đốc Trung tâm dữ liệu quốc gia cho biết, trong bối cảnh gian lận thương mại và hàng giả diễn biến phức tạp, việc xây dựng một hành lang pháp lý thống nhất về truy xuất nguồn gốc đang trở thành yêu cầu cấp thiết với mục tiêu cốt lõi là tạo ra sự minh bạch cho thị trường, đồng thời thiết lập cơ sở pháp lý vững chắc để kết nối, chia sẻ và xác thực dữ liệu sản phẩm trên quy mô toàn quốc.
“Cơ quan chủ trì sẽ tiếp thu tối đa các ý kiến đóng góp để rà soát, hoàn thiện câu chữ và kết cấu của dự thảo. Mục tiêu cuối cùng là xây dựng một Nghị định dễ hiểu, dễ thực hiện và thống nhất với hệ thống pháp luật hiện hành, góp phần xây dựng một nền tảng dữ liệu "đúng, đủ, sạch, sống", minh bạch và hiệu quả trong thời kỳ chuyển đổi số”, Đại tá Phạm Minh Tiến khẳng định.