“Sức khoẻ” của đồng tiền
Một trong những biện pháp mà Ngân hàng Nhà nước đang siết chặt nhằm thực hiện mục tiêu ưu tiên kiềm chế lạm phát của Chính phủ, là yêu cầu hệ thống ngân hàng thương mại tăng dự trữ bắt buộc, tăng lãi suất huy động nhằm “hút” tiền ra khỏi lưu thông. Lạm phát đã có nhiều nguyên nhân, đương nhiên chính sách tiền tệ đã được chỉ tên là một trong số “thủ phạm” chính.
Ai cũng có thể hiểu rằng, điều khó nhất trong chính sách tiền tệ là điều hòa đồng nội tệ “thông đồng bén giọt”. Giống như hai chiếc bình thông nhau, tiền hút vào ngân hàng phải nhiều, đồng tiền để rót vào sản xuất hàng hóa, xuất khẩu, đầu tư cũng phải dồi dào. Không phải như người ta vẫn thường quen miệng chúc nhau: “Tiền vào như nước sông Đà/ Tiền ra nhỏ giọt như cà phê phin”.
Động thái của Ngân hàng Nhà nước quyết định tăng lãi suất huy động VNĐ lên 14% năm, tức là hút mạnh tiền vào ngân hàng, cùng lúc tăng lãi suất cho vay lên đến 18%, nhắm tới mục đích cuối cùng là kiềm chế lạm phát. Theo các chuyên gia ngân hàng, trần lãi suất cho vay dù lên tới 21% có thể chưa là kịch trần nếu như lạm phát vẫn còn dở chứng lồng lên.
Nói giữa dạ, tiền tệ Việt
Vụ trưởng Vụ Chiến lược Ngân hàng của Ngân hàng Nhà nước nói rằng, phải chấp nhận lãi suất cao để kiềm chế lạm phát. Trong thời điểm này, theo ông chỉ nên ưu tiên vốn lưu động cho sản xuất kinh doanh.
Ông cũng thừa nhận, Ngân hàng Nhà nước và các nhà hoạch định chính sách tiền tệ hiểu rõ rằng, lãi suất cho vay tăng cao là một khó khăn rất lớn cho doanh nghiệp, đặc biệt là cơ hội “sờ” tới vốn vay của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, hộ dân càng khó với tới hơn.
Chừng nào lạm phát được kiểm soát thì Ngân hàng Nhà nước mới tính đến bước thứ hai là nới lỏng tỉ lệ dự trữ bắt buộc tạo điều kiện cho các ngân hàng giảm lãi suất cho vay.
Sau cuộc chạy đua lãi suất vừa mới đây, đến giờ các ngân hàng thương mại mới “tỉnh ngộ” ra rằng, việc tăng lãi suất nhằm hút tiền về chẳng qua chỉ làm cho luồng tiền “chảy thông” từ ngân hàng này sang ngân hàng khác, chứ có thấy tăng thêm tiền đổ vào ngân hàng đâu. Vậy thì đồng tiền đang nằm ở đâu? Doanh nghiệp, người sản xuất, kinh doanh thì vẫn “bạc mặt” mong ngóng được cầm đồng bạc ấm tay.
Người có nhu cầu vay vốn vừa cảm thấy, vừa nhìn thấy cửa “nhà băng” quá hẹp, khó vào. Nhiều ngân hàng cổ phần vẫn tiếp tục “đóng băng” tín dụng. Đâu chỉ riêng các ngân hàng nhỏ, các ngân hàng cổ phần lớn cũng tạm “đóng cửa” cho vay đối với khách hàng cá nhân vay để mua bất động sản hoặc vay tiêu dùng. Tất nhiên, là ưu tiên nhu cầu vay vốn tín dụng của khách hàng “quen mặt”.
Thế nhưng, chỉ những doanh nghiệp kinh doanh trong những ngành có tỉ suất lợi nhuận cao hoặc đã ký hợp đồng mới buộc phải vay vốn. Còn các doanh nghiệp “thấp cổ, bé họng” rất khó tiếp cận... đồng tiền. Trước những biến động về lãi suất, tỉ giá USD và giá vàng “sớm nắng chiều mưa”, một số khách hàng đã phải chuyển hướng đầu tư. Song, đáng lo ngại là tình trạng “tái xuất” hoạt động tiền tệ ngoài ngân hàng. Không ít giao dịch đều diễn ra ngoài cửa ngân hàng, cung cấp hàng hóa, chuyển tiền qua điện thoại và fax, qua mặt “nhà băng” như không.
Khi nền kinh tế còn quá nhiều những giao dịch thanh toán dùng tiền mặt, nhất là “đôla hóa” tràn lan trong hầu hết mọi lĩnh vực trên thị trường vẫn tồn tại “vô tư”, công khai thì chính sách điều hành tiền tệ sẽ lúng túng như “múa gậy trong bị” vậy. Mặt khác, với mức lãi suất huy động cao đã xuất hiện “hiện tượng” Việt kiều ở nước ngoài vay USD với lãi suất thấp để chuyển về cho người nhà trong nước đổi ra tiền đồng, gửi vào ngân hàng để “ăn” lãi suất cao.
Lại nữa, không ít trường hợp khách hàng bước chân vào các ngân hàng thương mại với tâm trạng tin cậy nhìn lên bảng tỉ giá VNĐ/USD. Nhưng khi có nhu cầu mua USD thì choáng váng như va đầu vào tường bởi tỉ giá niêm yết chỉ là “giả”, tỉ giá “thật” vọt lên tới hơn 18.600đ/USD. Phải chăng đây là kiểu “té nước theo mưa”, ăn theo tin đồn một số ngân hàng không cho khách hàng rút tiền gửi bằng USD trước thời hạn?
Mặc dù Phó vụ trưởng Vụ Quản lý ngoại hối - Ngân hàng Nhà nước đã cam đoan rằng, cá nhân gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ vẫn được rút ngoại tệ, nếu có nhu cầu chuyển đổi ra VNĐ thì có thể bán cho các ngân hàng thương mại. Tuy vậy, các ngân hàng vẫn đua nhau tăng lãi suất huy động USD và tình trạng khan hiếm USD ngày càng gay gắt. “Sách giáo khoa” thế giới dạy rằng muốn chống lạm phát thì phải thắt chặt tín dụng. Dẫu vậy, phải tùy theo “gia cảnh” mà tính toán liều lượng khi áp dụng lý thuyết vào thực tiễn.
Theo báo cáo của Quốc hội, ngân sách hàng năm bội chi 5%. Nghĩa là GDP càng lớn thì bội chi càng lớn và gây ra lạm phát. Đến lúc này, tác động của chính sách tiền tệ vào chỉ số giá tiêu dùng là không quá lớn. Theo các chuyên gia tiền tệ không nên quá thít chặt tiền tệ, gây khó khăn cho sản xuất, xuất khẩu. Các doanh nghiệp hiện rất cần vốn, “tiếp máu” để duy trì hoạt động. “Sức khỏe” của họ có được bồi bổ, nâng cao thì “sức khỏe” nền kinh tế mới được tăng lên, vừa giảm sức ép, vừa kéo lạm phát tụt xuống. Đừng quá nuôi hy vọng vào giải pháp tiền tệ mà Ngân hàng Nhà nước đưa ra như một “phép màu” kỳ diệu đẩy lùi “bóng đen” lạm phát