Tóm tắt tiểu sử Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Đồng chí Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh, sinh tháng 2 năm 1927, tại xã Bình Phú Tây (nay là xã Tây Phú), huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định. Thường trú tại số nhà 36B Lý Nam Đế, phường Cửa Đông, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.
Tham gia cách mạng tháng 7 năm 1945. Tháng 8 năm 1945 đồng chí nhập ngũ; tháng 5 năm 1946 đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, nay là Đảng Cộng sản Việt Nam
- Từ tháng 8 năm 1945 đến tháng 12 năm 1947, đồng chí là chiến sĩ, cán bộ trung đội, Đại đội trưởng Chi đội Phú Yên, Ủy viên chi đội.
- Từ tháng 1 năm 1948 đến tháng 10 năm 1951, đồng chí được bổ nhiệm các chức vụ: Trưởng ban Chính trị Phân khu 15, cán bộ Phòng nghiên cứu Liên khu 5, Đảng ủy viên phân khu.
- Từ tháng 11 năm 1951 đến tháng 11 năm 1955, đồng chí được bổ nhiệm các chức vụ: Chính trị viên Tiểu đoàn 19, Trung đoàn 108; Phó chủ nhiệm Chính trị, Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn 803; Chính ủy Trung đoàn 108, Sư đoàn 305; Phó chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn 305, Đảng ủy viên sư đoàn.
- Tháng 3 năm 1956, đồng chí được cử đi học chính trị tại Trung Quốc.
- Tháng 10 năm 1958 đến tháng 3 năm 1961, đồng chí là cán bộ nghiên cứu, Phó trưởng Phòng Huấn luyện, Trưởng Phòng Giáo dục, Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị.
- Tháng 4 năm 1961 đến tháng 9 năm 1970, đồng chí là: Chính ủy Lữ đoàn 305; Phó chính ủy Sư đoàn 304; Chính ủy Sư đoàn 3, Quân khu 5, Bí thư Đảng ủy Sư đoàn;
- Tháng 10 năm 1970 đến tháng 5 năm 1978, đồng chí giữ các chức vụ: Phó chủ nhiệm, Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 5; Phó Chính ủy Quân khu 5, Bí thư Đảng ủy Quân khu;
- Tháng 6 năm 1978 đến tháng 3 năm 1979, đồng chí giữ chức Hiệu trưởng Học viện Chính trị, Bí thư Đảng ủy Học viện Chính trị;
- Tháng 4 năm 1979, đồng chí là Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Bí thư Đảng ủy cơ quan Tổng cục Chính trị;
- Năm 1997, đồng chí được nghỉ hưu.
Đồng chí được phong quân hàm Thiếu tướng năm 1977; Trung tướng năm 1984; Thượng tướng năm 1988.
Đồng chí là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng các khóa V, VI, VII; Ủy viên Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương).
Do có nhiều thành tích đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và Quân đội, đồng chí đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huy hiệu 65 năm tuổi Đảng và nhiều phần thưởng cao quý khác