Đọc lại “Sợi nhớ sợi thương” của Thúy Bắc

11:13 04/07/2022

Bài thơ "Sợi nhớ sợi thương" của cố nữ thi sĩ Thúy Bắc được viết năm 1973, nằm trong nền thơ thời chống Mỹ. Đề tài và chủ đề cũng không ra ngoài dòng chảy chung của thơ ca thời ấy.

Trường Sơn Đông
Trường Sơn Tây

Bên nắng đốt
Bên mưa quây

Em dang tay
Em xòe tay

Chẳng thể nào
Xua tan mây

Chẳng thể nào
Che anh được

Rút sợi thương
Chằm mái lợp

Rút sợi nhớ
Đan vòm xanh

Nghiêng sườn Đông
Che mưa anh

Nghiêng sườn Tây
Xòa bóng mát

Rợp trời thương
Màu xanh suốt

Em nghiêng hết
Về phương anh.

                       1973

Bài thơ "Sợi nhớ sợi thương" của cố nữ thi sĩ Thúy Bắc được viết năm 1973, nằm trong nền thơ thời chống Mỹ. Đề tài và chủ đề cũng không ra ngoài dòng chảy chung của thơ ca thời ấy. Ngay cái chi tiết Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây còn có vẻ như tác giả công khai tiếp thu của nhà thơ Phạm Tiến Duật - bởi anh Duật là người đưa chi tiết này vào thơ sớm nhất, bài thơ của anh lại nổi tiếng và phổ biến rất rộng. Điều này dễ gây bất lợi nếu người đi sau không vượt qua được cái bóng của người đi trước.

Rất may việc ấy đã không xẩy ra: cả bài thơ của Thúy Bắc chỉ mượn đúng một chi tiết nói trên để làm đoạn vào đề, với mục đích giới thiệu bối cảnh. Từ đó trở đi, bài thơ rẽ sang một lối khác, hoàn toàn khác, và do đó nó có sức sống riêng, có quyền tồn tại độc lập, không chỉ với bài thơ của anh Duật, mà còn với rất nhiều bài thơ khác của thời chống Mỹ.

Cố thi sĩ Thúy Bắc (giữa).

Nét riêng đó là gì?

Như chúng ta biết, thơ chống Mỹ có lẽ là nền thơ tiêu biểu nhất được viết theo phương pháp sáng tác mà ta gọi là "hiện thực xã hội chủ nghĩa". Dưới cái nhìn định hướng có tính lạc quan cách mạng, hiện thực cuộc sống nguyên dạng được ùa vào đầy ắp, bề bộn, tràn ngập chi tiết. Bài thơ vừa nói trên của Phạm Tiến Duật là một dẫn chứng tiêu biểu. Bài thơ nhiều thông tin đến nỗi người đọc dù chưa đến Trường Sơn vẫn có thể hình dung rõ toàn bộ bối cảnh của bài thơ, hành vi và nhân thân của các nhân vật trong thơ hiện ra như trong một bài báo ghi chép.

Đương nhiên, phía sau những chất liệu thực ấy, bài thơ nhằm chở tâm hồn và tư tưởng, nhưng ấn tượng rậm rạp về những gì có thể tiếp nhận bằng giác quan vẫn khiến ta có thể xếp nó vào loại thơ hướng ngoại mà không sợ khiên cưỡng. Ở đây tôi không có ý định xếp thứ hạng cao thấp cho các bút pháp, mà chỉ muốn đề cập tới sự khác nhau của chúng, sự khác nhau cần thiết, làm đa dạng và phong phú cho văn học.

Trở lại với bài thơ của Thúy Bắc, chúng ta dễ dàng thấy ngoài bốn câu giới thiệu như đã nói ở trên, cả bài thơ không xây dựng trên những chất liệu thực tế, không có một thông tin nào dành cho các giác quan. Tất cả đều diễn ra trong tưởng tượng, như ta thường nói: Đó là cảnh mộng. Các hành vi vốn cụ thể như: dang tay, xòe tay, xua, che, rút, chằm, đan, nghiêng… đã không còn nghĩa thực, không được dùng theo nghĩa thực, bởi đối tượng của chúng hoặc là hư, hoặc nằm ngoài tầm của những hành động ấy.

Ta có thể hình dung nhân vật trữ tình ở đây trong tư thế bất động, mắt nhắm hay mở to, nhìn mà không thấy gì cả, và đối lập với sự yên tĩnh bề ngoài, trong tâm hồn người phụ nữ này là một đại dương đang nổi sóng - lớp lớp những ao ước, khát khao nối nhau kéo đến…

Những mơ ước, khát khao đó đều khác thường, đều to lớn, to lớn đến mức chỉ có thể diễn ra trong tâm tưởng và cũng chỉ trong tâm tưởng chúng mới có thể được giải quyết, được thỏa mãn: Từ việc lấy tay xua tan mây, lấy tay che mặt trời, lợp mái, đan vòm để che trời, đến cao trào của sức tưởng tượng ấy là nghiêng sườn núi để che mưa, che nắng cho người yêu… một hành vi phi lý, đương nhiên, nhưng vẫn bám được vào cái gốc thực của hình tượng bởi hình ảnh sườn núi vốn gợi tới một mái nhà.

Để hậu thuẫn cho những hình ảnh to lớn ấy, tác giả tung ra những trạng từ chỉ mức độ cao nhất: "Rợp", "suốt", "hết"… Bức tranh cực tả cảnh giông bão của tâm hồn ấy được đẩy đến cùng bởi từ "hết" có thể kéo dài ra như vô tận (mặc dù là vần trắc và âm khép) với dấu sắc dẫn tới chót vót, để rồi đổ ập xuống như một con sóng lớn, tràn ra mênh mông với ba vần bằng, và kết thúc bằng từ "anh" không dấu, có thể mở đến không cùng… Nói thế là chúng ta đã vô tình bị cuốn theo cái hơi thơ, mạch thơ cuồn cuộn vốn là nhân tố cực quan trọng làm nên sức sống của bài thơ này.

Toàn bộ bài thơ chỉ có 66 từ, mỗi câu 3 tiếng, 2 câu hình thành một khổ, thể thức khá hiếm trong thơ ta, và đặc biệt là cách gieo vần hầu như không theo một niêm luật nào cả, vừa như có vần, lại vừa như không, ngỡ như người làm thơ bị một sức mạnh  nào đó kéo đi, và đến lượt tác giả lại kéo người đọc theo mình, không nhiều lời và không cưỡng nổi. Tính tự nhiên nhi nhiên của mạch thơ ở đây đã tiết lộ cho ta hay bài thơ thực sự là một tặng vật bất ngờ của hồn người, thứ quả chín hiếm hoi trên cây thời gian mà có khi cả một đời người sống đắm say, cần mẫn mới hái được một lần.

Về mặt thủ pháp, cả bài thơ đều dùng những hình ảnh có gốc thực để diễn đạt cái hư, lại dùng cái hư đó để nói cái thực sâu xa của hồn người, nên thực thực, hư hư đan cài, trộn lẫn rất uyển diệu, và để làm việc đó, hàng loạt ẩn dụ đã được sử dụng hợp lý, đúng chỗ: Chẳng hạn hình ảnh "sợi nhớ sợi thương". Ngẫm nghĩ một chút, đối chiếu so sánh một chút (với thơ ca cổ điển, với Nguyễn Du chẳng hạn), ta sẽ thấy dùng hình ảnh "sợi" ở đây là hoàn toàn đắc địa, gần như không thể thay thế. Có lẽ vì thế, hình ảnh này mặc nhiên trở thành hạt nhân trung tâm, xương sống rất vững chắc của bài thơ và lâu dần trở thành đầu đề của bài (trong lần in đầu ở tập "Hoa trắng", bài thơ có nhan đề là "Gửi…"). Hình ảnh này cũng được công chúng đón nhận ân cần - đây đó còn thấy nó được "nhân bản" trong một số bài thơ của các tác giả đến sau.

Trở lại vấn đề đặt ra ở đầu bài, so sánh với nhiều bài thơ của thời chống Mỹ (như trường hợp của "Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây" mà ta đã đề cập tới), "Sợi nhớ sợi thương" là một trong số hiếm hoi những bài thơ đi riêng ra một lối, cái lối chỉ thuần túy dẫn ta đi sâu vào thế giới bên trong của hồn người, mà ta quen gọi là bút pháp hướng nội. Trong xu thế chung của thời ấy, làm được điều này có vẻ là một chuyện lạ. Với bút pháp ấy, liệu bài thơ có giảm bớt khả năng phản ánh hiện thực - chức năng hàng đầu mà ta vẫn đặt ra cho nền văn học cách mạng?

Để trả lời câu hỏi này, xin được mượn đến cách lý giải của Xuân Diệu, khi ông bênh vực cho Thơ Mới: Nếu như những bài thơ mà ta quen gọi là lãng mạn ấy ít bám sát thứ thực tế nhãn tiền của cuộc sống, thì thay vào đấy, chúng lại đi sâu thể hiện những buồn vui, yêu ghét đến mức tinh vi, những cung bậc phong phú của cuộc sống tâm hồn con người, lẽ nào đấy lại không phải là phản ánh hiện thực? Và Xuân Diệu gọi đó là "hiện thực của tâm hồn". Rất có thể, đấy lại là thứ hiện thực tinh túy nhất.

Anh Ngọc

Chiều 20/2 (tức mùng 4 Tết), người dân từ các tỉnh thành đã dần quay trở lại Thủ đô dù chưa kết thúc kỳ nghỉ Tết Nguyên đán Nguyên đán Bính Ngọ 2026. Tuy nhiên, ghi nhận của PV Báo CAND tại khu vực cửa ngõ phía Nam Thủ đô, tình hình giao thông diễn ra thuận lợi, người dân đi lại thông suốt. Lực lượng CSGT cùng với Công an cơ sở ứng trực tại tất cả các điểm nút ra vào thành phố để đảm bảo TTATGT cũng như triển khai thêm thiết bị công nghệ cho hoạt động giám sát, xử lý vi phạm giao thông trên tuyến.

Trong ngày 20/2 (mùng 4 Tết Bính Ngọ), người dân từ các tỉnh đã dần quay trở lại Thủ đô sớm song tình hình giao thông tại Hà Nội và các cửa ngõ được ghi nhận là khá thuận lợi và thông suốt, không xảy ra ùn tắc nghiêm trọng kéo dài như những năm trước.

Ngày 20/2, Ban tổ chức Lễ hội Du lịch Chùa Hương 2026 thông báo hoàn trả tiền đã đặt mua vé thắng cảnh từ 00h ngày 20 đến 24h ngày 22/2 qua các hình thức trực tiếp và trực tuyến. Ban tổ chức cũng thực hiện miễn phí gửi xe ô tô các loại tại các bến xe do Ban tổ chức quản lý.

Sau khi ăn trứng cá rồng - một loại cá cảnh, 13 người ở Thanh Hóa nhập viện với triệu chứng đau bụng, nôn, tiêu chảy nghi ngộ độc. Bộ Y tế yêu cầu khẩn trương điều tra làm rõ.

Sau ba ngày đầu năm, thị trường hàng hóa cả nước trong ngày Mùng 4 Tết Bính Ngọ 2026 đã dần hoạt động trở lại. Nguồn cung được tăng cường, hệ thống phân phối mở cửa đồng loạt, sức mua ở mức vừa phải nên giá cả nhìn chung ổn định, không có biến động bất thường.

Những ngày đầu xuân Bính Ngọ 2026, người dân khắp cả nước nô nức rủ nhau đi lễ. Trong các điểm đến tâm linh trên địa bàn Thủ đô Hà Nội, Phủ Tây Hồ luôn là một trong những nơi thu hút rất đông đảo người dân về dâng hương, làm lễ đầu năm.

Khoảng 4h sáng ngày 20/2, sau 3 giờ tích cực tìm kiếm, Công an xã Tây Yên Tử và Tổ bảo vệ Công ty Dịch vụ Tây Yên Tử đã nhanh chóng tìm kiếm, đưa 4 du khách bị lạc trong rừng khi tham quan Khu du lịch tâm linh – sinh thái Tây Yên Tử, thuộc xã Tây Yên Tử, tỉnh Bắc Ninh về nơi an toàn.

Khi sắc xuân bắt đầu lan tỏa trên từng con phố, cũng là lúc nền kinh tế Việt Nam khép lại một năm với nhiều dấu ấn đáng nhớ. Năm 2025 trôi qua trong bối cảnh thế giới đầy biến động, nhưng cũng là năm Việt Nam ghi tên mình đậm nét hơn trên bản đồ thương mại toàn cầu, bằng những con số xuất khẩu (XK) kỷ lục và sự trưởng thành rõ rệt của thương hiệu “Made in Vietnam”.

Khi những cành đào trước ngõ vừa hé nụ, khói hương trầm ngày Tết còn vương trong sương sớm, thì ở nhiều trụ sở Công an trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, một ca trực mới đã bắt đầu. Không pháo hoa, không tiếng chúc Tết rộn ràng, thay vào đó là ánh đèn phòng làm việc xuyên Tết, là tiếng bàn phím gõ nhịp đều đều, là những dòng dữ liệu dân cư được cập nhật chính xác đến từng chi tiết. Với lực lượng Công an Thanh Hóa, Tết không chỉ là thời khắc sum vầy, mà còn là “thời gian vàng” để tăng tốc, hoàn thiện mục tiêu chuyển đổi số, bảo đảm quyền lợi thiết thực nhất cho nhân dân.

Ngoại hình “chuẩn người mẫu”, bộ vest đen lịch sự, cặp kính đen cùng phong cách đầy… lãng tử khi xuất hiện cùng dàn xe chuyên dụng của lực lượng Cảnh vệ CAND khiến Trung uý Phùng Thế Văn trở thành hiện tượng đặc biệt được quan tâm trong dịp đại lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9 (A80). Nhưng có lẽ, đến thời điểm hiện tại, vẫn ít người biết tường tận về người lính đặc nhiệm trẻ vẫn được cộng đồng mạng, nhất là người trẻ ví von là “soái ca Cảnh vệ” A80 này.

Chỉ trong 6 ngày (từ ngày 27 Tết đến mùng 3 Tết), qua công tác tuần tra, kiểm soát; lực lượng chức năng đã phát hiện, lập biên bản 717 trường hợp vi phạm, tạm giữ 261 phương tiện. Các trường hợp phần lớn vi phạm liên quan đến các lỗi: nồng độ cồn, tốc độ, chở hàng quá khổ, quá tải và các lỗi tiềm ẩn nguy cơ cao gây TNGT.

©2004. Bản quyền thuộc về Báo Công An Nhân Dân.
®Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Báo Công An Nhân Dân.
English | 中文