Sức mạnh của nhân dân- từ Điện Biên Phủ đến khát vọng vươn mình của dân tộc
72 năm sau chiến thắng Điện Biên Phủ, lịch sử không chỉ nhắc nhớ về một chiến công quân sự “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, mà còn gợi mở một chân lý có giá trị xuyên thời đại: sức mạnh quyết định vận mệnh của dân tộc Việt Nam chưa bao giờ chỉ nằm ở vũ khí hay tiềm lực vật chất, mà nằm ở lòng dân, ở khối đại đoàn kết toàn dân tộc và ở ý chí độc lập, tự cường được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử.
- Điện Biên được lựa chọn thí điểm kinh tế tầm thấp, ứng dụng phương tiện bay không người lái
- 'Tiếp tục đoàn kết, quyết tâm hành động, xây dựng Điện Biên phát triển nhanh, bền vững hơn'
- “Giai điệu bình yên” ngược ngàn dịp kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ
- Đêm nhạc kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ tại Nhà hát Hồ Gươm
- Cận cảnh đội hình trực thăng tham gia lễ kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ
Trong lịch sử nhân loại, không nhiều dân tộc phải liên tục đối đầu với những đế chế hùng mạnh hơn mình gấp nhiều lần về tiềm lực quân sự, kinh tế và công nghệ như Việt Nam. Từ vó ngựa Nguyên – Mông từng làm rung chuyển Á, Âu; đến hàng chục vạn quân Thanh tràn xuống phương Nam; rồi thực dân Pháp với vũ khí hiện đại, tối tân và sau đó là đế quốc Mỹ với tiềm lực quân sự mạnh nhất thế giới…, tất cả đều từng bước vào Việt Nam với niềm tin rằng, ưu thế sức mạnh có thể khuất phục dân tộc này.
Nhưng rồi lịch sử đã nhiều lần chứng minh điều mà các thế lực xâm lược thường không thể hiểu hết, chính là sức mạnh nằm trong lòng nhân dân Việt Nam.
Có một chân lý từng được lịch sử chiến tranh nhiều lần chứng minh: Một đội quân có thể đánh bại một đội quân khác, nhưng không thể đánh bại được một dân tộc cùng chung ý chí và khát vọng độc lập.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định với niềm tin son sắt vào thắng lợi cuối cùng của dân tộc: “Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá. Song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn.”
Đó không chỉ là lời hiệu triệu trong thời chiến, mà còn phản ánh một quy luật sâu xa của lịch sử: sức mạnh quyết định vận mệnh của một quốc gia, xét đến cùng, không nằm ở vũ khí hay vật chất đơn thuần, mà nằm ở ý chí của nhân dân, ở sự đồng lòng của cả dân tộc khi đứng trước thử thách sống còn.
Và chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 7/5/1954 là minh chứng tiêu biểu, chói lọi nhất cho chân lý ấy.
Điện Biên Phủ – khi cả dân tộc cùng ra trận
Cho đến trước khi chiến dịch Điện Biên Phủ diễn ra, thực dân Pháp và giới quân sự phương Tây tin rằng đây sẽ là “cái bẫy thép” nghiền nát chủ lực của Việt Minh. Với 49 cứ điểm và 8 trung tâm đề kháng chia thành ba phân khu trải dài khắp lòng chảo Mường Thanh, được bảo vệ bằng hệ thống công sự kiên cố, hỏa lực mạnh, xe tăng, máy bay yểm trợ và lực lượng tinh nhuệ, Điện Biên Phủ được xem là tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương, là pháo đài “bất khả xâm phạm” thời điểm đó.
Người Pháp tin rằng quân đội Việt Minh không thể đưa được pháo lớn vượt núi rừng Tây Bắc. Họ càng không thể hình dung một lực lượng quân sự còn thiếu thốn về cơ giới lại có thể duy trì được hậu cần cho một chiến dịch quy mô lớn ở nơi hiểm trở như Điện Biên.
Nhưng điều mà họ không nhìn thấy, hoặc không thể hiểu hết, là phía sau quân đội Việt Minh khi ấy là sức mạnh của cả dân tộc.
Khi Bộ Chính trị và Trung ương Đảng quyết định chọn Điện Biên Phủ làm điểm quyết chiến chiến lược, cũng là lúc một cuộc huy động sức dân chưa từng có được triển khai trên quy mô toàn quốc. Hàng chục vạn con người từ khắp các địa phương đã hướng về Tây Bắc. Không chỉ bộ đội chủ lực, mà còn có thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, đồng bào các dân tộc, những người mẹ, người chị, những cụ già, em nhỏ…, tất cả cùng tạo thành một “mặt trận nhân dân” khổng lồ phía sau chiến hào.
Trong suốt 210 ngày chuẩn bị, phục vụ và chiến đấu cho Chiến dịch Điện Biên Phủ, đặc biệt là 56 ngày đêm chiến đấu liên tục từ ngày 13/3 đến 7/5/1954, sức mạnh của cả dân tộc đã được huy động ở mức độ chưa từng có. Đã có tới 261.453 dân công tham gia phục vụ chiến dịch với hơn 3 triệu ngày công. Họ sử dụng 20.991 xe đạp thồ, 11.800 bè mảng, 500 ngựa thồ để vận chuyển lương thực, đạn dược, thuốc men ra mặt trận. Tổng khối lượng vật chất phục vụ chiến dịch lên tới hơn 30.759 tấn; riêng khối lượng vận chuyển đạt 4.450.000 tấn/km – một kỳ tích hậu cần mà ngay cả nhiều nhà nghiên cứu quân sự nước ngoài sau này cũng phải kinh ngạc.
Nhưng những con số ấy vẫn chưa thể diễn tả hết chiều sâu của sức mạnh nhân dân Việt Nam trong chiến dịch Điện Biên Phủ.
Đó là những đoàn dân công chỉ ăn rau rừng, măng rừng và chút gạo buộc nơi ghi đông xe đạp, tuyệt nhiên không dám động vào hạt gạo vận chuyển cho bộ đội. Đó là những con người nằm ngủ vội trên những tấm nilon trải đất, đôi chân tóe máu vẫn tiếp tục gùi hàng vượt núi. Đó là những đội sửa đường âm thầm làm việc dưới bom đạn để tuyến vận tải không bao giờ bị cắt đứt.
Máy bay Pháp liên tục ném bom nhằm chặn đứng các tuyến hậu cần của ta. Nhưng mỗi khi một con đường bị phá hỏng, hàng ngàn dân công lại lập tức xuất hiện để sửa chữa, san lấp, đảm bảo cho dòng người, dòng hàng hóa tiếp tục tiến về phía trước. Chưa bao giờ tuyến đường lên Điện Biên bị tê liệt hoàn toàn, bởi phía sau nó là ý chí của cả dân tộc.
Đặc biệt, hình ảnh những chiếc xe đạp thồ đã trở thành biểu tượng bất tử của chiến tranh nhân dân Việt Nam. Chính những chiếc xe đạp do người Pháp sản xuất lại được nhân dân ta cải tiến thành phương tiện vận tải chiến lược. Mỗi xe chở từ 150 đến 200kg hàng hóa, cá biệt dân công Ma Văn Thắng ở Phú Thọ đã nâng tải trọng lên tới 337kg – một con số tưởng chừng không thể trong điều kiện núi rừng hiểm trở.
Nhưng có lẽ kỳ tích lớn nhất của sức dân ở Điện Biên nằm ở việc kéo pháo.
Để tạo nên thế trận bất ngờ, hàng ngàn bộ đội và dân công đã mở con đường kéo pháo dài 15km, rộng 3m vượt qua đỉnh Pu Pha Sông cao hơn 1.100m để đưa những khẩu pháo nặng hơn 2 tấn vào trận địa hoàn toàn bằng sức người. Khi phương châm tác chiến chuyển từ “đánh nhanh thắng nhanh” sang “đánh chắc tiến chắc”, họ lại tiếp tục kéo pháo ra, đào hầm, xây dựng lại trận địa trong điều kiện gian khổ khôn cùng. Sự hy sinh của anh hùng Tô Vĩnh Diện lấy thân mình chèn pháo đã trở thành biểu tượng cho tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.
Nhưng điều làm nên sức mạnh lớn nhất của Điện Biên Phủ không chỉ là sức người hay lòng dũng cảm. Đó còn là sức mạnh của niềm tin – thứ sức mạnh vô hình nhưng có thể khiến cả một dân tộc vượt qua những giới hạn tưởng chừng không thể. Đó là niềm tin của nhân dân vào Đảng, vào Bác Hồ, vào con đường đấu tranh giành độc lập dân tộc mà cách mạng đã lựa chọn. Những người dân công kéo pháo năm ấy có thể chưa từng học qua lý luận chính trị hay hiểu hết cục diện quốc tế, nhưng họ hiểu rất rõ một điều giản dị: dân tộc này phải được độc lập, con cháu họ phải được sống trong một đất nước tự do, không còn cảnh mất nước, nô lệ.
Chính niềm tin ấy đã biến những con người bình thường thành những con người phi thường. Không phải ngẫu nhiên mà giữa núi rừng Tây Bắc khốc liệt, những đoàn dân công vẫn lặng lẽ tiến về phía trước. Không phải ngẫu nhiên mà hàng vạn con người sẵn sàng nhịn đói, chịu rét, chấp nhận hy sinh để giữ cho từng hạt gạo, từng viên đạn đến được chiến hào. Bởi sâu thẳm trong họ là niềm tin rằng những gian khổ hôm nay chính là di sản vô giá cho tương lai của dân tộc ngày mai.
Điện Biên Phủ vì thế không đơn thuần là chiến thắng của một quân đội. Đó là chiến thắng của chiến tranh nhân dân, của thế trận lòng dân, của sức mạnh đại đoàn kết dân tộc và của một niềm tin chưa bao giờ bị khuất phục.
Từ Điện Biên Phủ trong chiến tranh đến những “Điện Biên Phủ” trong thời đại mới
72 năm đã trôi qua kể từ chiến thắng Điện Biên Phủ, dân tộc Việt Nam hôm nay không còn phải đối mặt với những đoàn quân xâm lược bằng súng đạn như trong quá khứ. Nhưng điều đó không có nghĩa đất nước đã bước ra khỏi mọi thử thách.
Thế giới hôm nay đang biến đổi với tốc độ chưa từng có. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt; xung đột cục bộ, chiến tranh công nghệ, an ninh mạng, cạnh tranh dữ liệu và chuỗi cung ứng toàn cầu đang làm thay đổi sâu sắc cấu trúc quyền lực thế giới. Bên cạnh những thời cơ lớn từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là nguy cơ tụt hậu, lệ thuộc và bị gạt ra bên lề nếu một quốc gia không đủ nội lực để thích ứng và bứt phá.
Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhiều lần nhấn mạnh yêu cầu phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, khơi dậy mạnh mẽ khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; coi đây là nguồn sức mạnh nội sinh quan trọng nhất để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới. Điều đó cho thấy, trong mọi thời đại, sức mạnh của Việt Nam chưa bao giờ chỉ nằm ở tài nguyên hay vị trí địa chính trị, mà nằm ở con người Việt Nam, ở lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và niềm tin của nhân dân vào tương lai dân tộc.
Trong bối cảnh thế giới biến động nhanh chóng, phức tạp và khó lường hiện nay, bài học từ Điện Biên Phủ càng cho thấy giá trị của tư duy tự chủ chiến lược và sức mạnh nội sinh dân tộc. Một quốc gia chỉ có thể đứng vững khi có đủ bản lĩnh để tự quyết định con đường phát triển của mình, không lệ thuộc, không bị cuốn vào vòng xoáy cạnh tranh của các nước lớn, đồng thời biết tranh thủ thời cơ của hội nhập quốc tế để phát triển đất nước.
Tinh thần ấy đang được Đảng ta tiếp tục phát huy trong đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế; xây dựng nền ngoại giao mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam” – mềm dẻo nhưng kiên cường, linh hoạt nhưng vững nguyên tắc, biết hòa hiếu, hợp tác nhưng luôn giữ vững lợi ích quốc gia – dân tộc.
Trong điều kiện mới, bảo vệ Tổ quốc không chỉ là bảo vệ biên giới, chủ quyền lãnh thổ, mà còn là giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển từ sớm, từ xa; chủ động phòng ngừa các nguy cơ an ninh truyền thống và phi truyền thống; giữ vững ổn định chính trị – xã hội và củng cố niềm tin của nhân dân.
Trong bối cảnh ấy, Việt Nam đang đứng trước một “trận tuyến” mới của thời đại: cuộc chiến chống tụt hậu, chống lệ thuộc, chống nguy cơ bị bỏ lại phía sau trong cuộc cạnh tranh toàn cầu khốc liệt. Nếu trong chiến tranh, Điện Biên Phủ là cuộc quyết chiến bằng súng đạn để giành độc lập dân tộc, thì trong thời đại hôm nay, đất nước cũng đang cần những “Điện Biên Phủ” mới trên mặt trận phát triển.
Đó là “Điện Biên Phủ” của khoa học công nghệ và chuyển đổi số, khi Việt Nam phải từng bước làm chủ công nghệ lõi, nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo và xây dựng nền kinh tế tri thức đủ sức cạnh tranh trong thời đại số.
Đó là “Điện Biên Phủ” của kinh tế tự cường, khi đất nước phải vượt qua bẫy thu nhập trung bình, nâng cao năng suất lao động và xây dựng nội lực quốc gia đủ mạnh để không bị phụ thuộc hay tổn thương trước những biến động bên ngoài.
Đó là “Điện Biên Phủ” trong bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, trên mặt trận thông tin, tư tưởng và an ninh phi truyền thống – những lĩnh vực đang ngày càng trở thành tuyến đầu của cạnh tranh chiến lược hiện đại.
Đó cũng là “Điện Biên Phủ” trong xây dựng niềm tin xã hội, giữ gìn khối đại đoàn kết toàn dân tộc, củng cố mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân – nền tảng cốt lõi tạo nên sức mạnh quốc gia trong mọi thời đại.
Từ Điện Biên Phủ nhìn về hiện tại, bài học lớn nhất có lẽ vẫn còn nguyên giá trị: muốn tạo nên những bước phát triển mang tính đột phá, trước hết phải khơi dậy được sức dân, củng cố niềm tin của nhân dân và phát huy vai trò chủ thể của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Tinh thần ấy cũng đang được Đảng ta tiếp tục khẳng định và nâng tầm trong văn kiện Đại hội XIV của Đảng, trở thành kim chỉ nam cho Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc: mọi chủ trương, đường lối, chính sách đều phải xuất phát từ lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc và đời sống của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu, lấy sự hài lòng và niềm tin của nhân dân làm thước đo hiệu quả của bộ máy nhà nước. Nhân dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng thành quả phát triển, mà phải thực sự trở thành trung tâm, chủ thể và nguồn lực quan trọng nhất của quá trình phát triển đất nước.
Đó cũng chính là sự kế thừa sâu sắc bài học của Điện Biên Phủ năm xưa. Bởi lịch sử đã chứng minh: khi lòng dân được khơi dậy, khi ý Đảng hòa quyện với lòng dân, dân tộc Việt Nam có thể vượt qua mọi khó khăn, thử thách và làm nên những kỳ tích.
72 năm sau chiến thắng Điện Biên Phủ, âm hưởng của những đoàn dân công kéo pháo năm nào dường như vẫn còn vang vọng trong hành trình phát triển hôm nay. Chỉ khác rằng, nếu năm xưa nhân dân góp sức người, sức của cho chiến trường, thì hôm nay nhân dân chính là nguồn lực sáng tạo, là động lực đổi mới, là nền tảng để đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình mạnh mẽ của dân tộc Việt Nam. Và đó có lẽ là giá trị lớn nhất, bền vững nhất mà Điện Biên Phủ để lại cho hôm nay và mai sau.
Truyền thông quốc tế đưa tin đậm nét lễ kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ Hình ảnh ấn tượng Lễ diễu binh, diễu hành kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ Long trọng tổ chức Lễ diễu binh, diễu hành kỷ niệm 70 năm chiến thắng Điện Biên Phủ Tinh thần “Điện Biên Phủ” phải được thắp lên như một mệnh lệnh phát triển