Bà ngoại
Khi chúng ta lớn lên, kịp thấu nhận được tình cảm của bà ngoại, kịp biết thương bà, thương cuộc đời chịu đựng nhiều khổ đau và nhiều hy sinh của bà, thì bà đã xa.
Lẽ đời vẫn vậy, khi ta biết yêu thương một cách hoàn chỉnh và sâu sắc thì thứ mà ta yêu thương nhất đã thuộc về ai đó, thuộc về thế giới nào đó, hay thuộc về cõi khác. Khi ta biết mình cần phải chia sớt tình thương mến, thì hạnh phúc đã tuột trôi xa.
Ngày 8/3 năm nay, người tôi nghĩ tới nhiều nhất không phải là mẹ, là chị, là cô giáo, mà chính là bà ngoại của tôi. Nghĩ tới bà, nhớ về bà tôi lại chảy nước mắt, thầm một nỗi xót xa, ân hận. Giá như ngày đó tôi lớn hơn chút ít để hiểu bà khổ đến nhường nào, để tôi biết thương bà nhiều hơn thì bây giờ đâu đến nỗi phải day dứt.
Tôi đã mang nỗi ân hận lớn về bà theo suốt cuộc sống của mình. Tại khi còn nhỏ, tôi không được gần bà, không được lớn lên trong vòng tay của bà nên tôi không hiểu hết được những gì mà cuộc đời đau khổ của bà đã trải qua.
Bà ngoại có 4 người con được hai cậu con trai nhưng cậu Thuỷ đã hy sinh ở chiến trường. Còn lại cậu Tư là con trai độc nhất nên bà ở với gia đình cậu, chăm lo cho cậu. Trong ký ức tuổi thơ của tôi, tôi được gặp bà ít lắm, nhưng hình ảnh và nỗi xa xót về bà thì đầy chật trong miền quá khứ của tôi.
Khi bà mất tôi đã học lên cấp 3 rồi, nhưng hãy còn trẻ con lắm. Đám tang bà, tôi không có mặt. Tôi chẳng nhớ tại sao tôi lại không có mặt vào giây phút tiễn đưa bà về trời. Tại tôi đi học xa, hay tại mẹ không nói cho tôi. Tôi không nhớ nữa, chỉ biết giờ đây khi mình có thể đi dự biết bao nhiêu đám tang người thân, kẻ quen sơ, lúc ấy mới thấy xót xa vì đám tang của bà mình, mình lại không đưa bà ra đồng được. Đó cũng là một nỗi ân hận lớn mà chỉ mãi đến sau này, khi lớn lên trưởng thành rồi tôi mới thấm thía.
Ngày đó, tôi chỉ mang máng rằng, bà mất trong một hoàn cảnh rất buồn, rất lặng lẽ. Khi các cháu vào giường đưa cơm cho bà thì bà đã chết tự lúc nào. Bà mất mà không một ai hay biết. Tuổi già, sức khoẻ yếu, lại mù lòa, cuộc sống của bà duy trì tồn tại được là nhờ các cháu, nhờ cậu, đến bữa thì mang cho bát cơm củ khoai, nhớ đến thì thay cho bà chiếc áo, giặt cho bà cái quần, giặt cho bà chiếc chiếu.
Bà bị mù hơn chục năm, sống loanh quanh trong gian bếp bằng tình thương của đứa con trai cũng có một cuộc đời quá ư đau khổ. Vợ của cậu Tư tôi cũng làm nghề dạy học như cậu, bị đau thần kinh, nằm liệt giường một chỗ sau khi đã sinh cho cậu 4 người con lít nhít. Cũng giống như bà, mự nằm liệt giường hơn hai chục năm rồi mất trong lặng lẽ.
Trong một gia đình mà mẹ già bị mù lòa, vợ bị liệt một chỗ phải có người phục vụ, cậu vừa đi dạy học cấp 3, vừa đảm đương nuôi 4 đứa con thơ dại, không thể kể hết nỗi đoạn trường. Nhất là cuộc sống những năm 70-80 thời bao cấp ở nơi miền quê nghèo nhất miền Trung thì đến cái ăn chạy đói hằng ngày cũng thiếu, chưa nói đến cái gì khác. Việc bà tôi hay mự tôi chết trong lặng lẽ, nhất là bà ngoại tôi, chết không một ai hay biết cũng là lẽ thường vì hoàn cảnh lúc bấy giờ không thể trách ai được.
Tôi cứ nghĩ cả bà ngoại tôi, cả mự Vân tôi đều là những người phụ nữ bền gan và giàu nghị lực, đã phải chống chọi với bệnh tật trong câm lặng, đã tự vươn lên, đã giành giật từng ngày sống, từng phút sống cho đến khi sự sống tàn đi và lụi tắt.
Có lẽ tôi sẽ không khóc thương bà ngoại nhiều như vậy nếu mẹ tôi không kể ra cuộc đời đau khổ của bà. Bà ngoại tôi đẹp lắm, là người Cẩm Thạch - Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh. Bà sinh ra trong một gia đình phú nông giàu có. Sinh ra và lớn lên trong thời đại phong kiến nên các cụ ngoại nuôi dạy bà kỹ lưỡng như thời các gia đình phong kiến nuôi dạy con gái lấy bốn chữ công - dung - ngôn - hạnh làm đầu.
Bà ngoại tôi có gương mặt trái xoan, nước da trắng bóc, dáng người cao ráo rong rải, tóc suôn dài chuyên vấn vành khăn quấn ngang đầu, hàm răng nhuộm đen nhức. Mẹ tôi được thừa hưởng từ bà ngoại nước da trắng mát nhưng gương mặt mẹ giống ông ngoại, không thanh tú đài các như gương mặt của bà.
Mười bảy tuổi bà đã đi lấy chồng. Ông ngoại tôi hơn bà 2 tuổi, cũng con một gia đình phú nông giàu có. Sau này, thời cải cách ruộng đất, nhà cụ ngoại bị quy là địa chủ phá sản. Ông ngoại tôi tính tình mạnh mẽ, có phần dữ dội và ngang tàng. Nếu như bà ngoại hiền lành bao nhiêu, khép mình nhẫn nhục chịu đựng bao nhiêu thì ông ngoại dọc ngang phiêu bạt bấy nhiêu.
Cưới bà về, sau ba năm, bà đẻ cho ông hai người con là mẹ tôi và cậu Thuỷ. Cậu Thuỷ vừa dứt bụng mẹ hãy còn đỏ hỏn, ông ngoại tôi đã đánh bạc trong vòng một tháng gán hết toàn bộ gia sản gồm mấy chục con trâu bò và gần chục mẫu ruộng. Đánh bạc sạch bách gia tài điền sản, ông nói với bà ngoại ở nhà nuôi con, ông đi sang Lào buôn tơ lụa kiếm tiền về để chuộc lại gia sản. Khi đi ông còn thuê theo mấy người hầu đi cùng.
Từ đó, ông ngoại bỏ đi bạt xứ đúng 15 năm. Bà ở nhà một mình nuôi hai con và ngóng chờ tin chồng đúng bằng thời gian 15 năm của thân Kiều lưu lạc. Bà ngoại năm đó vừa tròn 21 tuổi, dù đã sinh hai đứa con nhưng chỉ biết việc bếp núc thêu thùa chứ không biết việc đồng áng. Gia sản khánh kiệt, ruộng nương không còn, chồng bỏ đi Lào biệt xứ, bà ngoại cùng hai con sống được trong 15 năm đơn côi ấy là nhờ gia đình bên ngoại của bà tuần nào cũng cho người đội một thúng gạo thịt sang cho bà ngoại nuôi con.
Đều đặn trong 15 năm, gia đình bên ngoại chu cấp cho bà. Mẹ tôi và cậu Thuỷ lớn lên chút đỉnh, bà ngoại bắt đầu xắn quần lội ruộng tập cày cấy, tập làm thuê cho người khác để kiếm gạo nuôi con. Suốt mười lăm năm, ông ngoại không bao giờ gửi về cho bà dù chỉ là một bức thư, hay vài dòng nhắn gửi rằng ông vẫn còn sống, ông chưa về được, chứ chưa nói một món tiền nhỏ hay một chút quà cho bà và các con.
Vậy nhưng, 15 năm ấy, bà ngoại có bao nhiêu người đến dạm ngõ, bao nhiêu người hò hẹn thầm thương trộm nhớ bà. Bao nhiêu người mang bà mối, mang trầu mang cau đến xin hỏi cưới. Bà ngoại lắc đầu một mực chờ chồng. Sự chờ đợi kéo dài suốt cả tuổi thanh xuân của bà, 15 năm đoạn trường khắc khoải, bà không hề lung lạc một niềm tin rằng ông sẽ trở về với bà, cho dù 15 năm ấy bặt tin tức.
Cuối cùng ông ngoại trở về với bà thật. Ông mang về cái thân xác đau ốm do sốt rét, do rượu và một tay nải rỗng không, một xu dính túi cũng không còn. Bà ngoại đón ông trong nước mắt đắng cay. Chăm sóc ông, vực ông từ xanh xao ốm yếu dần hồng hào khoẻ mạnh lại. Bà cứ chăm chút cho ông như vậy cho đến khi ông hồi phục hẳn. Bà có thêm với ông 2 người con nữa là dì Tam và cậu Tư sau này. --PageBreak--
Sau Cách mạng Tháng 8, cả ông bà nhờ hoạt động tích cực nên đều được kết nạp đảng viên. Ông giữ chức Trưởng ban bình dân học vụ của xã. Sau này phụ trách công tác thương nghiệp của huyện. Ông ngoại về hưu năm 60 tuổi. Sáu tháng sau khi nghỉ hưu, ông bị bệnh rồi mất. Bà ngoại sống thêm 20 năm nữa rồi mới mất. Hai mươi năm thì hơn 10 năm bà bị mù lòa, sống trong bệnh tật, trong hoàn cảnh đặc biệt của người con trai duy nhất còn lại. (Cậu Thuỷ hy sinh trong chống Pháp, cậu Tư tôi dạy Toán lý rất giỏi, mặc dù đã nghỉ hưu nhưng nhà trường vẫn mời cậu tiếp tục ở lại giảng dạy).
Khi tôi lớn lên biết đâu là mẹ, đâu là bà thì bà ngoại đã bị mù. Bà làm lụng nhiều, ăn uống kham khổ thiếu can xi, thiếu vitamin nên mắt bà mù và lưng bà bị còng từ rất sớm. Ngoài 60 tuổi mắt đã mù hẳn, lưng đã rạp xuống sát đất. Thỉnh thoảng, thương bà khổ quá, mẹ tôi đón bà về nuôi. Nhưng chỉ được một thời gian ngắn, bà ngoại lại thương cậu vất vả với đàn con thơ và mự nằm liệt giường, bà lại quày quả đòi về chăm cháu.
Mấy chị em tôi lớn lên, tuần nào mẹ cũng sai mang thức ăn, mang bánh về cho bà ngoại rồi tranh thủ tắm cho bà, giặt giũ giường chiếu cho bà. Ngày đó các chị tôi đã lớn, biết thương bà nhiều. Chỉ mình tôi là bé, sau này các chị đi học xa, mẹ sai tôi về bà, mắt trước mắt sau là tôi lỉnh đi chơi vì không muốn ngồi cạnh bà nghe bà hỏi chuyện. "Hôm nay trời nắng hay râm, hàng dâm bụt trước ngõ trổ hoa đỏ chưa, con gà mái sau nhà đã đẻ chưa, cây gạo đầu làng đã đơm bông chưa?".
Biết tôi ham chơi, lần nào về, bà cũng níu tay năn nỉ: "Con ơi, giặt cho bà chiếc chiếu và quần áo đã rồi con hẵng đi. Lâu lắm rồi, không có ai giặt giũ cho bà". Tôi miễn cưỡng ôm đồ ra mương nước trước nhà giặt cho bà vì ở quê nước lúc nào cũng thiếu, các giếng tự đào hầu như không đủ nước để sinh hoạt. Cả đống đồ của bà tôi mang hết ra mương nước đục ngầu mùi bùn, giặt vội cho bà. Bây giờ nghĩ lại tất cả những chuyện đó thì bà đã đi xa. Có xót xa, ân hận nữa thì bà cũng đã ở trên trời, không bao giờ còn có bà nữa để cho những đứa cháu vô tâm như tôi chuộc lỗi.
Không chỉ mỗi bà ngoại tôi có một cuộc đời nhiều nỗi đoạn trường. Bạn tôi cũng có bà ngoại hoàn cảnh thật éo le. Bà tên là Thuận, đẹp người, nết na, hát hay nhất hội làng nhưng không hiểu vì mê thầy đồ lắm chữ nói hay, hay vì thương hoàn cảnh thầy góa vợ lại bằng lòng làm vợ lẽ cho một ông thầy đồ ở trong làng. Ông thầy đồ goá vợ có 5 con nhưng rặt 5 con gái.
Bà Thuận về làm lẽ, lo chăm 5 đứa con cho chồng, vì đói khổ vất vả quá mà sẩy ngược sẩy xuôi cuối cùng cũng chỉ đẻ thêm được một đứa con gái nữa. Thầy đồ rặt con gái, không có con trai nối dõi tông đường, buồn tình đi uống rượu say. Uống rượu về lại thương vợ cũ, lại ngán ngao cho hoàn cảnh vợ mới không sinh nở được đứa con trai, lại đánh chửi vợ.
Vậy mà bà ngoại của bạn tôi một mực chịu đựng, thương chồng, sắm lễ vật đi hỏi vợ ba cho chồng để cầu được đứa con trai. Thầy đồ nhiều gái mê nên việc cưới vợ ba không khó. Vậy là bà ngoại bạn tôi lại lụi cụi cưới vợ cho chồng, rồi chăm sóc vợ mới cưới của chồng khi có mang, khi ở cữ. Vợ ba của chồng đẻ được thằng cu kháu khỉnh, vậy là bao nhiêu yêu thương, chồng mình dồn hết cho người vợ này.
Nuốt nước mắt vào trong, bà ngoại bạn tôi vẫn cặm cụi nuôi đàn con chồng. Bà không dám làm điều gì để bà ba phật ý, bởi nếu bà ba phật ý thì chồng mình sẽ buồn, sẽ lại đi uống rượu và nhiếc móc bà. Bởi vậy là vợ nhưng bà Thuận sống như người ăn kẻ ở, lam lũ hy sinh tất cả vì chồng và vì con chồng. Khi con trai của bà ba lớn lên chút nữa, bà ba mê gánh hát, bỏ con bỏ chồng đi theo gánh hát. Bà ngoại của bạn tôi sấp ngửa chạy ngược chạy xuôi đi tìm bà ba về cho chồng mình. Tìm không được, bà ngoại bạn tôi về nhà khóc cúi lạy trước mặt chồng vì cảm giác mình có lỗi trước nỗi buồn của chồng.
Hiếm có bà ngoại nào sống trong hạnh phúc và sung sướng bởi không phải cuộc đời bà ngoại luôn khổ mà vì thiên chức của bà ngoại là vậy. Thương chồng, thương con, thương cháu, lo cho chồng cho con, cho cháu, khiến cho cuộc đời bà ngoại đã luôn tất bật lo toan.
Để trở thành bà ngoại, bà đã trải qua đoạn trường làm vợ, làm mẹ. Bao nhiêu nhọc nhằn vất vả bà ngoại đều chịu đựng trong âm thầm. Cuộc đời của bà ngoại mấy ai không từng trải nhiều hy sinh. Ngay cả cuộc sống thời hiện đại hôm nay, câu ca "cháu bà nội tội bà ngoại" nào phải đã là cũ