Con người cùng khổ vì những người cùng khổ
"Chính vì những con người cùng khổ mà tôi viết văn. Tôi viết về Tám Bính, bị đời lừa dối phản bội, bị xô đầu xuống vực thẳm của cuộc sống cực khổ nhất, tối tăm nhất: ăn cắp và nhà thổ, bị đời khinh bỉ, ghê tởm. Nhưng từ trong vũng bùn, Tám Bính vẫn cố vươn lên, vẫn giữ trong mình tâm hồn trong trắng và giàu lòng vị tha. Tám Bính là tôi! Bỉ Vỏ là văn của tôi...". Nghe Nguyên Hồng nói về nhân vật Tám Bính chẳng khác ông nói về đời mình.
Nguyên Hồng của chúng ta là vậy. Người đời nhớ tới Nguyên Hồng không chỉ bởi sức sống tự thân mãnh liệt của những Tám Bính, Năm Sài Gòn hay Bảy Hựu mà chính ông là con người cùng khổ vì những con người cùng khổ.
Chưa đầy 20 tuổi đã trình đời 2 tác phẩm đầu tay "Bỉ Vỏ" và "Những ngày thơ ấu" làm lay động thức tỉnh lương tri về lớp người cùng khổ bị giày xéo và đầy đọa dưới đáy xã hội dưới chế độ thực dân phong kiến tàn bạo. Chỉ ngần ấy, Nguyên Hồng tự xếp mình vào hàng con người cùng khổ.
Nguyên Hồng, sinh ngày 5/11/1918 trong một gia đình Công giáo đang vào lúc sa sút ở TP Nam Định. Mồ côi cha sớm, gia đình lại lâm vào túng bấn, nhà văn phải thôi học cùng mẹ ra Hải Phòng lần hồi kiếm sống trong những xóm thợ nghèo xơ xác từ năm 1935.
Vốn là người thông minh và có chút học vấn, Nguyên Hồng vừa đỡ đần mẹ vừa đi dạy tư cho con em thợ thuyền, phu phen ở Cảng trong các lớp học không được cấp giấy phép. Nguyên Hồng thai nghén cho đời mình bằng những tác phẩm văn học. Đồng cảnh với những đứa trẻ lang thang, lêu lổng ở sân ga, bến tàu, vườn hoa, sân bóng...
Ông giao du với đủ hạng người. Cơ cực này đã giúp ông viết rất cảm động trong thiên hồi ký "Những ngày thơ ấu".
Đọc những dòng nhật ký của ông ngày đó mà không sao cầm nổi nước mắt, đau đáu nỗi đau "Ngày 1/11/1931: Phải nhớ mãi câu rủa xả này cho đến chết: Hồng ơi, bố mày nó chết đi, nhưng còn có mẹ mày nó dạy mày. Cầm bằng mẹ mày đánh đĩ theo giai bỏ mày lêu lổng thì đã có chúng tao.
Mẹ ơi, con khổ quá mẹ ơi! Sao mẹ đi lâu thế mãi không về. Người ta đánh con vì con dám cướp lại đồ chơi của con mà con người ta giằng lấy. Người ta lại còn chửi con, chửi cả mẹ. Mẹ xa con, mẹ có biết không?
Ngày 20/11/1931: "Giá ai cho tôi một xu nhỉ. Chỉ một xu thôi, để tôi mua xôi hay bánh khúc. Trời rét thế này, đi học một mình vừa đi vừa cắn, ngon xiết bao. Không, không ai cho tôi cả, vì họ có phải là mẹ tôi đâu".
Chưa hết, năm 14 tuổi tai họa tiếp tục giáng xuống đời Nguyên Hồng: đi tù do người bố dượng ở tỉnh Thanh gây ra. Trong tù, ông sống với những con người cùng khổ bị đẩy vào con đường phạm tội, những tay anh chị sống bằng nghề đâm thuê chém mướn, chạy vỏ, cắt bọc, cờ bạc và những người tù đàn bà cảnh ngộ thương tâm.
Cũng chính từ đây Nguyên Hồng đã viết 2 truyện ngắn. Một về cô gái làm nghề muối không hiểu vì tội gì cô gái bị tống vào tù, rồi bị bọn quản ngục hãm hiếp cho đến chết. Và chuyện thứ 2 về một người đàn bà thay chồng vào tù rồi cũng chết. Chính Nguyên Hồng dùng chiếc xe bô (xe chuyên dùng của nhà tù) chở xác bà ta sang nhà thương để họ đem chôn.
2 năm sau (năm 16 tuổi) Nguyên Hồng ra tù. Được tin mẹ đang sống ở xóm Cấm, Hải Phòng, Nguyên Hồng về ở với mẹ phụ giúp bán trầu, cau. Hải Phòng lúc bấy giờ là thành phố mới thành hình trong cái gọi là "Công cuộc khai hóa thuộc địa lần thứ 2 ở xứ Đông Dương...", nên hầu hết những người tứ xứ tha phương cầu thực đến đây. Đây chính là bước ngoặt định mệnh với nhà văn Nguyên Hồng.
Sau này, ông vẫn ở với mẹ. Chiều chiều lang thang đến cảng Cầu Ngự, cầu Hai Tai, bến tàu Tây để quan sát tìm hiểu về những người phu khuân vác và những tay anh chị bến bãi
Đến chợ Sắt để hiểu về đám người buôn thúng bán mẹt với những kẻ bần cùng làm nghề chạy vỏ, cắt bọc. Đến vườn hoa để được chứng kiến những cảnh "Bán vợ đợ con" thương tâm...
Cuộc sống ngồn ngộn để con người cùng khổ Nguyên Hồng xây dựng, sáng tạo nên những tác phẩm văn học có giá trị đến mãi mai sau. Kể cả khi Nguyên Hồng đi cùng Cách mạng như một sự tất yếu, vẫn trung thành, tận tâm với dân nghèo như những ngày đầu cầm bút. Tác phẩm "Hơi thở tàn" (1944), "Miếng bánh" (1945), "Địa ngục và lò lửa" (1946)... là cả quá trình ông gắn bó với nhân dân và Cách mạng.
![]() |
| Những tác phẩm văn học của nhà văn Nguyên Hồng. Ảnh Văn Thịnh. |
Không ai ngạc nhiên trong những ngày đầu Hải Phòng giải phóng, Nguyên Hồng đã có mặt trong đoàn quân tiến về thành phố và rồi ông ở lại hẳn với mọi người cùng khổ lao động xây dựng Hải Phòng sau chiến tranh.
Bộ sử thi đồ sộ "Cửa biển" ông mải miết viết về những người dân nghèo, những viên chức tri thức văn nghệ sĩ, những chiến sĩ cộng sản hợp thành một mặt trận đấu tranh quyết liệt với một lũ đại diện cho chế độ thực dân phong kiến. Sự đóng góp của ông từ đó còn lớn lao lắm.
Năm 1982 Nguyên Hồng đã vĩnh biệt chúng ta. Những gì ông để lại là nhân cách của nhà văn và một tấm gương trong cho các lớp học trò, hậu sinh của ông noi theo. Sinh thời Nguyên Hồng đã từng nói "Tôi muốn tự ép mình trong khổ hạnh, sẵn sàng mai danh ẩn tích như một kẻ vô danh để hiến dâng trọn vẹn tâm huyết và sức lực cho đời, cho những người cùng khổ như tôi".
Trong dịp kỷ niệm 25 năm ngày mất của nhà văn Nguyên Hồng, Hội liên hiệp Văn học nghệ thuật Hải Phòng đã tổ chức Hội thảo "Con người và sự nghiệp nhà văn Nguyên Hồng" để thêm một lần khẳng định với đời sự đóng góp to lớn của ông vào kho tàng văn học Việt Nam về đất cảng Hải Phòng.
Chủ tịch Hội liên hiệp Văn học nghệ thuật Hải Phòng Tô Hoàng Vũ tâm sự rằng, ý tưởng "Mỗi người một giọt đồng" để đúc tượng Nguyên Hồng đã được ấp ủ từ lâu, nay muốn các thế hệ thành phố cảng chung lưng đúc tượng Nguyên Hồng để "con người cùng khổ vì những con người cùng khổ" mãi mãi sống trong lòng mọi người
