Cuốn sách “Lược sử vùng đất Nam Bộ Việt Nam”
Từ lâu nay, vùng đất Nam Bộ Việt Nam đã được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu, nhưng do hạn chế về tư liệu nên nhiều vấn đề còn đang thảo luận; ở trong nước còn quá ít sách viết về lịch sử vùng đất này, sách giáo khoa phổ thông thì gần như không đề cập đến. Tình trạng đó đã tạo nên một khoảng trống trong nhận thức của nhân dân và cán bộ về tính toàn bộ của lịch sử và văn hóa Việt Nam.
Và chính từ những câu hỏi: Lịch sử vùng đất Nam Bộ bắt đầu từ lúc nào? Diễn ra thế nào? Quan hệ với miền Trung, miền Bắc ra sao?... đã thôi thúc nhóm tác giả là những GS, PGS… của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam không quản khó nhọc, ngày đêm tra cứu, cho ra đời quyển sách Lược sử vùng đất Nam Bộ Việt Nam.
Giá trị khoa học và tính nghiêm túc, khách quan của quyển sách Lược sử vùng đất Nam Bộ Việt Nam thể hiện ở chỗ, nhóm tác giả đã dựa trên cơ sở tổng hợp các kết quả nghiên cứu cổ học, dân tộc học, văn hóa học, luật học… ở trong và ngoài nước.
Cuốn sách không đi sâu vào thời tiền sử khi con người xuất hiện trên vùng đất Nam Bộ mà chủ yếu bắt đầu từ văn hóa Óc Eo và nước Phù Nam, nghĩa là từ khi Nhà nước đầu tiên ra đời trên vùng đất này vào đầu Công nguyên.
Từ đó, độc giả thấy rằng, thời cổ đại, trên lãnh thổ Việt Nam hiện nay, xuất hiện ba trung tâm văn minh và Nhà nước vào loại sớm nhất Đông Nam Á là Trung tâm Văn hóa Đông Sơn và Nhà nước Văn Lang - Âu Lạc ở miền Bắc; Trung tâm Văn hóa Sa Huỳnh và nước Lâm Ấp (Chămpa) ở miền Trung; Trung tâm Văn hóa Óc Eo và nước Phù Nam ở phía Nam.
Lược sử vùng đất Nam Bộ cho biết, quyển sách có niên đại sớm nhất đề cập đến nước Phù Nam là Di vật chí của Dương Phù thời Đông Hán (25 - 220). Đến thời Tam Quốc (220 - 280), Phù Nam đã thiết lập quan hệ bang giao với nước Ngô - một nước mạnh thời bấy giờ.
Các sách có niên đại muộn hơn vào thế kỷ VI - VII như Trần Thư, Thùy Thư, Thông Điển, Tân Đường Thư… cũng đều có ghi chép tỉ mỉ về Phù Nam. Kèm theo những thư tịch cổ này của Trung Quốc là kết quả nghiên cứu, khai quật của nhiều nhà khảo cổ học, nhân chủng học và ngôn ngữ học trên thế giới.
Quá trình lịch sử khi nước Phù Nam suy sụp sau năm 627 được sách thể hiện khá rõ. Vùng đất Nam Bộ lúc bấy giờ thuộc lãnh thổ nước Chân Lạp (vốn là một tiểu quốc - chư hầu của Phù Nam trước đó, nằm ở vùng trung lưu sông Mê Kông và phía Bắc Biển Hồ Tongle Sáp) thế kỷ VII - XVI.
Và từ thế kỷ thứ XVII, những nông dân người Việt, người Hoa, người Chăm và một số tộc người thiểu số khác vào đây khẩn hoang, lập nghiệp cùng với cư dân bản địa người Khmer.
Đối với mối quan hệ giữa chính quyền Chúa Nguyễn ở Đàng Trong với Vương triều Chân Lạp, sách dẫn ra một chi tiết độc đáo từ sách Cochin - China của tác giả Christofo Borri - một giáo sĩ người Italia sống tại thị trấn Nước Mặn, nay thuộc huyện Tuy Phước (Bình Định) vào giai đoạn 1618 - 1622, cho biết: Vào năm 1620, Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên gả con gái của mình là Công chúa Ngọc Vạn cho Quốc vương Chân Lạp Chey Chettha II. Đám cưới được tổ chức long trọng trong cung điện mới xây ở U Đông.
Dưới sự bảo trợ của bà Hoàng hậu người Việt của Vương triều Chey Chettha II (1619 - 1627), cư dân Việt từ vùng Thuận - Quảng vào sinh sống làm ăn ở lưu vực sông Đồng Nai ngày một đông thêm.
Sách còn trích dẫn một đoạn trong quyển Đế quốc Khmer của tác giả Geosges Maspéro cho biết, nhờ ảnh hưởng của Hoàng hậu Việt tại Chân Lạp mà năm 1623, Chúa Nguyễn được phép thành lập thương điếm ở vị trí tương ứng với Sài Gòn (TP HCM hiện nay) để thu thuế.
Năm 1658, Vua nước Chân Lạp là Nặc Ông Chân (Chan Ramathipati) xâm lấn biên thùy và đã bị thuộc quyền của Chúa Nguyễn bắt sống nhưng tha tội chết. Đây là những hoạt động quan trọng đầu tiên của Chúa Nguyễn trên con đường từng bước hình thành và bảo vệ chủ quyền của mình đối với vùng đất miền Đông Nam Bộ trong những thập kỷ đầu và giữa thế kỷ XVII.
Năm 1674, Chân Lạp bị chia thành Chính Quốc Vương (đóng ở U Đông) và Phó Quốc Vương (đóng ở Sài Gòn). Cả hai đều triều cống Chúa Nguyễn.
Năm 1691, Phó Quốc Vương Nặc Ông Nộn (Ang Non) qua đời và khu vực Nam Bộ không có đại diện của Vương triều Chân Lạp cai quản nữa.
Năm 1698, Chúa Nguyễn sai Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược đất Đồng Nai. Sài Gòn - Gia Định trở thành trung tâm hành chính - chính trị và từng bước trở thành trung tâm kinh tế - văn hóa của vùng đất mới.
Trước tình hình phát triển hết sức nhanh chóng của khu vực Gia Định dưới quyền quản lý của chính quyền Chúa Nguyễn, Tổng Binh trấn Hà Tiên Mạc Cửu đã đem toàn bộ vùng đất đang cai quản là Hà Tiên (từng được xem là một quốc gia riêng sau khi tách khỏi Chân Lạp, gồm các tỉnh Nam sông Hậu ngày nay) về với Chúa Nguyễn.
Tháng 4/1711, Mạc Cửu đã đến cửa khuyết để tạ ơn và được Chúa Nguyễn hậu thưởng.
Sau năm 1739, khi đánh Hà Tiên không thành, Vương triều Chân Lạp rơi vào tình trạng mâu thuẫn nội bộ nghiêm trọng. Có thế lực muốn dựa hẳn vào Chúa Nguyễn nhưng lại có thế lực muốn chạy theo Vua Xiêm.
Năm 1756, Vua Chân Lạp là Nặc Nguyên xin hiến đất hai phủ Tầm Bồn, Lôi Lạp và nộp bù lễ cống còn thiếu 3 năm trước để chuộc tội.
Sau khi Nặc Nguyên qua đời, triều đình Chân Lạp lại rối loạn, đánh giết lẫn nhau. Người em họ của Nặc Nguyên là Nặc Tôn chạy sang Hà Tiên lánh nạn và được Mạc Thiên Tứ (con của Mạc Cửu, được kế tục Đô đốc trấn Hà Tiên) cưu mang, giới thiệu lên Chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn bèn sắc phong cho Nặc Tôn làm Vua Chân Lạp. Để tạ ơn, Nặc Tôn đã dâng đất.
Như vậy, đến năm 1757, những những phần đất còn lại ở Miền Tây Nam Bộ trên thực tế đã thuộc quyền cai quản của Chúa Nguyễn từ trước đó, chính thức thuộc chủ quyền của Việt Nam. Và trên căn bản, khu vực biên giới Việt Nam> hiện nay đã được hoạch định từ năm 1757.
Trên cơ sở thực tế lịch sử và các văn bản pháp lý mang tính quốc tế in kèm theo, Lược sử vùng đất Nam Bộ đã khẳng định Nam Bộ là một bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam. Cuốn sách còn dành một phần thích đáng trình bày về cuộc sống của cộng đồng cư dân Nam Bộ và mối quan hệ đoàn kết, giao thoa văn hóa mật thiết giữa các dân tộc Việt, Khmer, Hoa, Chăm cùng các dân tộc ít người khác; những nét đặc trưng của không gian lịch sử, văn hóa Nam Bộ.
Nhóm tác giả cũng nhấn mạnh truyền thống đoàn kết dân tộc của cộng đồng các dân tộc ở Nam Bộ trong lao động sáng tạo phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội cũng như trong đấu tranh kiên cường, bất khuất bảo vệ độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc Việt Nam.
Nhiều độc giả tại Đồng bằng sông Cửu Long đồng cảm nhận với tôi, cho biết, đây là một quyển sách hay, rất cần được bổ sung vào tủ sách nghiên cứu, giảng dạy của ngành Giáo dục cả nước hiện nay