Đạo diễn Phạm Hoàng Nam: “Tôi nửa vời bởi tôi tỉnh táo”

17:05 14/09/2009
Được đào tạo chuyên ngành quay phim tại Liên Xô (cũ). Nhận ngay giải camera vàng cho bộ phim đầu tiên (phim “Lưỡi dao”) đến nay, dù thời gian “gác máy” cũng đã khá lâu, nhưng vẫn khó ai có thể vượt qua cái tên quay phim Phạm Hoàng Nam.

Bộ phim đầu tay trong vai trò đạo diễn (“Khi đàn ông có bầu”) thu về bộn tiền cho hãng phim Phước Sang, nhưng lại bị đánh giá là “một bước lùi” về nghề của Phạm Hoàng Nam. Đạo diễn show hoàn toàn là nghề tay trái, nhưng lại đang nuôi nghề tay phải. Và thực tế, cái tên Phạm Hoàng Nam lúc này sáng, phần lớn là do làm show. Ba lĩnh vực trên, thứ được coi là thánh đường, thứ được coi là... nồi cơm. Nhưng dù “nồi cơm” hay “thánh đường” thì Phạm Hoàng Nam vẫn luôn thận trọng và hết sức tỉnh táo. Sự tỉnh táo vượt ngoài khuôn  khổ của một nghệ sĩ, và ngoài sức tưởng tượng về một nghệ sĩ. Nhưng có thể vì thế mà Phạm Hoàng Nam thành công?

“Tôi thà không bấm máy còn hơn làm hỏng ước mơ của mình”

- Người ta không thể đứng một chân trên ba xuồng. Vậy thì quay phim, đạo diễn điện ảnh và đạo diễn show - đâu là sự quan tâm, là con đường chính, là sự chọn vẹn trong tâm huyết của anh?

- Chỉ là điện ảnh. Đối với tôi, điện ảnh là thánh đường, nên tôi phải cẩn thận nhất với nó, những gì trải qua đủ thể nghiệm rồi, bây giờ tôi được phép làm những gì mình thích. Muốn như thế phải có những điều kiện cụ thể. Trước hết, để tồn tại mà không phải phụ thuộc một cách vật chất hoá, tôi cần phải làm show. Mặt khác, tôi hiểu điện ảnh là cuộc chơi rất đồng bộ, nhất là con người, sau đó là thị trường.

Thật ra, tôi có rất nhiều kịch bản. Có những kịch bản chưa xin phép được, có những kịch bản chưa kiếm tiền được, có những kịch bản được cả hai nhưng lại không đúng thời điểm. Cụ thể, anh Nguyễn Mạnh Tuấn viết và tôi sửa lại một kịch bản rất hay là “Thiên Đô” cho 1000 năm Thăng Long. Đó là cái tôi rút ruột nhất. Nó đi đến giai đoạn cuối thì người quyết định chạy dự án này bị chuyển sang nhiệm vụ khác.

Phim nhựa bị bể, người ta chuyển sang truyền hình, thành “Huyền sử Thiên Đô”. Nhà đầu tư vẫn mời tôi làm, nhưng tôi không muốn làm phim truyền hình. Ngoài ra, năm nào tôi cũng có dự án. Hãng Giải Phóng mời tôi làm “Thủ tướng”, tôi từ chối, “Chuông reo là bắn” tôi không thích. Phước Sang đưa “Xóm chuột”, tôi không làm. Nhà văn Trần Thị Hồng Hạnh đưa kịch bản rất hay nhưng lại khó xin tài trợ. Hay dự án “Tam đàn bà” của Việt Linh chuẩn bị rất kỹ, phim sắp bấm máy thì nhà sản xuất - anh Trần Khải Hoàng mất. 

Năm nay có phim nữa, lẽ ra tôi nhận quay là “Long Thành cầm giả ca” của hãng phim Giải Phóng. Tôi rất thích kịch bản, nhưng nói đến cách làm phim, tôi từ chối ngay lập tức. Có lẽ bây giờ tôi già nên khó tính? Nhưng tôi thà không bấm máy còn hơn làm hỏng ước mơ của mình.

- Cái gì đổ vỡ cũng có lý do của nó. Nhưng cái quan trọng là nếu người ta muốn làm thì vẫn có lý do để làm, nhất là một người đã có thương hiệu và có nhiều điều kiện làm việc như anh?

- Có rất nhiều người chờ 10 năm để có một bộ phim. Điện ảnh là như vậy. Không ai giục tôi chuyện này, chỉ tự tôi giục mình, và tôi chọn cách mọi thứ chín muồi mới làm. Với show diễn, tôi quyết định rất nhanh, nhưng điện ảnh không làm một mình được, phải cho nhà đầu tư cùng chí hướng, có đội ngũ nhân sự và phải có thị trường khán giả. Những yếu tố đó chưa đủ thì tôi chưa làm, nhất là nhân sự.

Bây giờ mọi người chuyển sang làm phim truyền hình. Những người tôi kỳ vọng hợp tác, thậm chí yêu quý, ngưỡng mộ cũng bị truyền hình cuốn đi như một cơn lũ, kể cả anh Lê Hoàng. Những tay máy giỏi như Trinh Hoan, K’Linh... đều bỏ đi làm truyền hình. Thành ra tư duy của điện ảnh rất hiếm hoi. Đó là lý do Việt kiều vào Việt Nam làm phim thường lấy người của họ. Nguyễn Phan Quang Bình làm “Cánh đồng bất tận” cũng phải mời "Tây" về. Người Việt Nam làm phim đâu hết rồi?

- Không biết những đổ vỡ bên trong như thế nào, nhưng thực tế là đã lâu không thấy anh làm phim. Dù anh có tự tin cái tên Phạm Hoàng Nam lừng lững ở đó, nhưng nếu một thời gian dài không làm phim, thì người ta cũng đối xử một cách tàn nhẫn là không cần Phạm Hoàng Nam nữa, nhất là thị trường đang có những tay máy trẻ rất cá tính?

- Chỉ có tôi cần tôi thôi. Mọi người không cần tôi, với tôi không quan trọng lắm. Vì tôi hiểu mình đang muốn gì. Tôi cho tác phẩm quan trọng hơn cái tên. Từng là người rụt rè và sợ đám đông, sau khi học và làm đạo diễn, tôi mới tự tin trước đám đông. Nhưng tôi vẫn sợ những cuộc ra mắt. Tôi không thích người ta nhắc mình không vì tác phẩm, mà chỉ vì cái tên.

- Quay phim thành công chuyển sang đạo diễn không phải chuyện hiếm hoi, ở cả Tây lẫn ta. Nên với trường hợp của anh cũng không gây bất ngờ. Nhưng bất ngờ là, bộ phim “Khi đàn ông có bầu” do anh đạo diễn rất thành công về doanh thu, lẽ thường, người ta sẽ chớp cơ hội để làm những phim tiếp theo, nhưng không phải. Có phải phim thành công và anh tự nhận ra… thất bại của mình?

- Đúng vậy! Mục đích doanh thu là của nhà sản xuất. Ở góc độ đó Phước Sang rất thành công, và tôi là người góp phần lớn về thành công đó. Nhưng về nghệ thuật, tôi không cho mình thành công. Sau khi làm thử, tôi nghĩ dạng phim đó không phải con đường của mình. Tôi biết trước điều đó, nhưng còn khía cạnh khác nữa. Hồi đó tôi với anh Lê Hoàng mới làm xong “Gái nhảy”. Phim ăn khách và mọi người nói ăn may.

Tôi với anh Hoàng tách ra làm phim, hơi có tính ganh đua, nhưng sự ganh đua đó ít hơn sự ganh đua với thị trường, rằng tôi sẽ làm được phim ăn khách. Chúng tôi tập trung vào ý thức kiếm được nhiều tiền nhiều hơn là làm một bộ phim để đời. Chúng tôi chỉ biết phim Tết năm nay phải thắng như năm ngoái. Tôi làm “Khi đàn ông có bầu”, còn anh Hoàng làm “Nữ tướng cướp”.

Thật ra Phước Sang với Thiên Ngân (đầu tư “Nữ tướng cướp”) cạnh tranh nhau, chứ tôi với anh Hoàng không cạnh tranh nhiều. Năm đó Phước Sang nói sẽ “đánh thắng” Thiên Ngân. Nên có thể nói, đó một cuộc đua thú vị hơn là làm phim.

Đạo diễn Phạm Hoàng Nam. Ảnh: SGGP

- Người “tỉnh” như anh có thể bị cuốn vào một cuộc đua thú vị, mà ai cũng biết mặt trái là “là cuộc đua tử thần”, vì nó có khả năng hạ bệ tên tuổi của anh?

- Không phải bị cuốn, mà tôi cố tình nhảy vào. “Gái nhảy” thành công một phần do bất ngờ chứ không cố tình. Mọi người nói do ăn may, nên chúng tôi muốn chứng minh mình không ăn may, mà làm cho thị trường hẳn hoi. Mục đích là tiền, nó đã được chứng minh bằng vé. Nhưng để đạt được kết quả như mong muốn, tôi lại mất cái khác. Rõ ràng tôi đã đi trái với gu của mình, vì hài không phải gu của tôi và tính tôi cũng không hài hước.

Tôi không phải người làm bình dân. Không phải tôi cao đạo, mà là tôi không nắm được tiếng nói của họ. Tôi chỉ dùng kỹ thuật và nghề của mình để nói tiếng nói mà Phước Sang muốn nói với khán giả thì đúng hơn. Phim đó cũng là thứ để tôi xem thị trường như thế nào. Kết quả là thị trường theo rất nhanh. Một loạt hãng phim nhảy vào.

Tôi thấy không có mình cũng đã có nhiều người làm. Sau đó thị trường bẻ sang hướng khác, không phải hài mà là teen. Tôi thích cái gì hơi suy ngẫm, cầu kỳ một chút, nên teen cũng không được. Do đó, tôi tránh thị trường phim Tết, chứ không phải tránh thị trường phim.

- Có thể nói ngắn gọn, sau “Khi đàn ông có bầu”, anh sẽ tạm biệt dòng phim thị trường?

- Cái chấm hết là thể loại phim hài, chứ không phải dòng phim thị trường. Sau “Khi đàn ông có bầu”, mọi người kiếm được tiền, vui vẻ, nhưng tôi cảm giác không phải với mình. Tôi hơi mắc cỡ với mình, và tôi không muốn lặp lại nữa.

Gia đình đạo diễn Phạm Hoàng Nam. Ảnh: SGGP

- Anh còn muốn cộng tác với Phước Sang nữa không?

- Tại sao lại không? Tôi không cho đó là chuyện cá nhân, mà là sản xuất. Ở góc độ nhà sản xuất, Phước Sang rất giỏi. Nếu Phước Sang có kịch bản hay, tôi vẫn làm. Chỉ là tôi không làm phim hài nữa. Ngoài ra, tôi với Phước Sang là bạn.

- Anh coi điện ảnh là tôn giáo, vậy đạo diễn show chỉ có thể là… nồi cơm. Anh sẽ “nấu” như thế nào để có một “nồi cơm” ngon?

- Trước đây tôi không phải người làm show chuyên nghiệp, mà chỉ làm tay ngang. Nhưng khi làm nghề, có nhiều thích thú, đam mê và tôi hiểu làm tay trái cũng phải chuyên nghiệp. Khi đã xác định đứng vào đó một cách chuyên nghiệp, thì mình bị biến thành người chuyên nghiệp. Chuyên nghiệp, có lúc anh được nhận cái mình thích như nghệ sĩ, nhưng có những cái không thích, song vẫn phải làm một cách chuyên nghiệp.

Vì show không phải tôn giáo như điện ảnh, nên tôi cho phép mình làm đa dạng. Hay nói cách khác, tôi thoả hiệp với bên show nhiều hơn bên phim. Thật ra, đạo diễn show là  rất vất vả chứ không “ngon ăn” gì. Thử thách của show là nó rất ngắn, phải dồn toàn tâm toàn ý vào một thời điểm và không được làm sai. Khi làm show tôi thường mất ăn mất ngủ. Nhưng phim là tay phải. Có phim hay, tôi có thể bỏ làm phim mà không làm show. Ngược lại, vì show bỏ phim thì không, nếu đó là phim hay.

- Nghệ sĩ cực đoan thì làm cái gì liên quan đến nghệ thuật cũng cực đoan. Nếu anh cực đoan với điện ảnh, tôi không tin anh dễ dàng thoả  hiệp với show. Ngược lại, nếu dễ dàng thoả hiệp với show, tôi lại không tin anh cực đoan với điện ảnh?

- Sự thoả hiệp ở đây có nghĩa là thoả hiệp với thể loại, chứ không phải thoả hiệp với yêu cầu của nhà sản xuất. Nhà  sản xuất thường gặp khó khăn với tôi nhiều hơn tôi gặp khó khăn với họ. Yêu cầu của tôi bao giờ cũng rất khó chịu. Tôi bắt đặt rất nhiều điều kiện để show được như ý muốn ban đầu. Cũng lưu ý, trong show có show ca nhạc và show event. Show event thì rõ là kiếm tiền. Vì có công ty  tổ chức sự kiện, nên tôi không thể từ chối những thứ đó như một nhà chuyên nghiệp. Còn khi đứng tên riêng để đạo diễn những show tôi thích, lúc đó tôi chỉ dùng tên đạo diễn, chứ không phải công ty.

- Có phải để có tên anh trong show, mức tiền phải cao hơn mặt bằng chung?

- Cũng có thể, vì tôi phải nuôi cả công ty. Hơn nữa, bây giờ nhiều người muốn làm show và nhiều người có thể làm show. Nhưng người ta mời đến tôi toàn là “xương”, không hề dễ. Nó làm hao của mình rất nhiều sức lực và chất xám, nên phải trả giá bằng vật chất. Thoả thuận được thì làm, chứ không phải làm khó nhà đầu tư. Ngược lại, không phải nhà đầu tư trả tiền theo kiểu ném qua cửa sổ.

- Quay phim, đạo diễn điện ảnh hay đạo diễn show, đều có thể dùng tính từ “tỉnh táo” để đặc tả về anh?

- Đúng. Tôi cho đó là nhược điểm. Tôi thuộc người làm nghề tỉnh, và cái đó không hề tốt. Bao giờ tôi cũng dành chỗ cho đam mê, nhưng tôi không muốn hy sinh tất cả. Vì tôi không phải người hy sinh tất cả vì nghệ thuật. Nói cách khác, tôi hy sinh vì nghệ thuật, nhưng quá thì phải cân nhắc. Vì tôi có những giá trị khác quan trọng hơn. Đó là gia đình. Nếu đụng đến ranh giới đó là tôi phải suy nghĩ.

Tôi không thể hy sinh con để đi làm nghệ thuật. Tôi quan niệm con phải là những gì tốt nhất. Thậm chí tôi sẵn sang hy sinh tên tuổi, sự nghiệp của mình. Nếu làm cái gì cảm giác ảnh hưởng đến gia đình, khiến nó tan vỡ, hay trẻ con thiếu bố là tôi ngưng ngay. Có những dự án đi làm xa nhà nửa năm trời, tôi phải từ chối. Tôi không muốn con tôi còn bé mà phải xa bố lâu như vậy. Tuy nhiên, bây giờ tôi có thể nhận nhiều việc hơn vì con tôi đã lớn, đứa đầu đi học nước ngoài. Đây là giai đoạn tôi nghĩ mình sẽ hy sinh nhiều hơn cho nghệ thuật.

- Những gì anh nói nghiêng về sự đánh đổi, còn tôi đang hỏi về vấn đề tỉnh táo. Sự tỉnh táo của anh thể hiện ở chỗ, anh nhận việc, làm việc, phân biệt làm nghề và kiếm tiền rất rạch ròi. Và nếu những người làm nghệ thuật thường ít kiểm soát được bản thân, thì anh kiểm soát được mọi thứ?

- Đôi khi đam mê lớn hơn tỉnh táo, tác phẩm sẽ hay hơn, và siêu phẩm thường hình thành ở những người quên hết mọi thứ. Tôi là người hơi nửa vời một chút. Tôi biết và tôi chọn lựa như vậy. Tuy nhiên, cái đó không có giá trị vĩnh viễn. Nếu nghệ thuật đó thức tỉnh được mình, mình có thể điên lên được. Tôi đã có những thứ điên mà người ta không biết vì tôi chưa thể hiện ra. Ví như việc tôi ôm kịch bản Lý Công Uẩn đi mấy tháng trời, và tôi thức ròng với nó.

Có những thứ thắng được tôi, tôi sẽ quên hết. Nhưng có lẽ một phần do tôi tỉnh táo, một phần là những tác phẩm chưa đủ mạnh để cuốn tôi đi. Trong khi tôi không phải người lai láng, dễ bị cuốn theo cảm xúc, mà thường lý trí kiểm soát cảm xúc nhiều hơn. Nên tôi mới nói tôi là loại nửa vời bởi sự tỉnh táo.

- Anh nói siêu phẩm thường bắt đầu từ sự không tỉnh táo, và anh cũng thừa nhận mình là người tỉnh táo. Nghĩa là đừng bao giờ chờ đợi siêu phẩm ở Phạm Hoàng Nam?

- Không. Tôi nói nó chỉ mang tính tạm thời. Khi chưa có gia đình, tôi hoàn toàn không tỉnh táo, thậm chí tôi vô cùng điên rồ. Tôi chỉ tỉnh táo sau những cú va đập khủng khiếp. Tôi từng mất kiểm sát và đã phải trả giá rất nhiều cho những cái đó. Nghề tôi theo bây giờ không có trong gia phả, cả họ hàng ngăn cấm. Mẹ tôi là người Hà Nội, nên càng định kiến với nghệ sĩ, vì coi đó là kiếp xướng ca vô loài.

Tôi phải chấp nhận sự bất ủng hộ của gia đình, không tài chính, lang thang theo đoàn làm phim. Tôi đã mất rất nhiều thứ, từ người yêu đến quan hệ gia đình. Tôi đam mê đến mức, cái gia đình nhỏ mới hình thành từng đứng bên rìa của sự tan vỡ, nó gần như đã tan vỡ rồi. Nhưng  tôi hiểu mình lựa chọn cái gì trong chuyện đó. Sau khi say sưa đi làm, về nhà một mình tôi không sống được. Tôi không quen với sự cô đơn. Có thể nói, tôi chỉ có khoảng 10 năm là người tỉnh táo.

- Không lẽ sự tỉnh táo trong lựa chọn chi phối đến từng thao tác khi anh làm nghề? Vì rất nhiều người hiểu, sự tỉnh táo của anh cũng chính là câu trả lời cho việc những người mời anh sẽ yên tâm về một tác phẩm an toàn.

- Chuyên môn tôi học là quay phim. Khi cầm máy, tôi không tỉnh táo như thế. Từ những bộ phim tôi quay với anh Hoàng như “Lưỡi dao”, “Ai xuôi vạn lý”, “Mê Thảo” của Việt Linh… để lấy được khuôn hình đẹp, có nhiều trường hợp nguy hiểm đến tính mạng. Nên sự tỉnh táo khi quay phim hoàn toàn không có. Nhưng tỉnh táo trong show là có. Khi đứng vào show, ngoài đầu óc của người sáng tạo, còn là đầu óc của người sản xuất.

Phim lỡ sai có thể  quay lại, nhưng đặc thù của show là không ai làm lại được, nên tôi thoả hiệp. Thay vì “điên”, tôi cho phép mình “tỉnh”. “Liệu cơm gắp mắm” là từ mọi người yêu thích, nhất khi làm show ở Việt Nam. Nó phổ biến đến mức trong tất cả cuộc họp với nhà sản xuất, tôi đều đề nghị không nói câu đó. Nguyên cái từ đó đã là tỉnh táo. Vậy làm sao tôi có thể điên?  Nên vì “liệu cơm gắp mắm”, tôi luôn là người tỉnh táo!

Theo Đẹp

Trong ngày 20/2 (mùng 4 Tết Bính Ngọ), người dân từ các tỉnh đã dần quay trở lại Thủ đô sớm song tình hình giao thông tại Hà Nội và các cửa ngõ được ghi nhận là khá thuận lợi và thông suốt, không xảy ra ùn tắc nghiêm trọng kéo dài như những năm trước.

Khi sắc xuân bắt đầu lan tỏa trên từng con phố, cũng là lúc nền kinh tế Việt Nam khép lại một năm với nhiều dấu ấn đáng nhớ. Năm 2025 trôi qua trong bối cảnh thế giới đầy biến động, nhưng cũng là năm Việt Nam ghi tên mình đậm nét hơn trên bản đồ thương mại toàn cầu, bằng những con số xuất khẩu (XK) kỷ lục và sự trưởng thành rõ rệt của thương hiệu “Made in Vietnam”.

Ngày 20/2, Ban tổ chức Lễ hội Du lịch Chùa Hương 2026 thông báo hoàn trả tiền đã đặt mua vé thắng cảnh từ 00h ngày 20 đến 24h ngày 22/2 qua các hình thức trực tiếp và trực tuyến. Ban tổ chức cũng thực hiện miễn phí gửi xe ô tô các loại tại các bến xe do Ban tổ chức quản lý.

Sau khi ăn trứng cá rồng - một loại cá cảnh, 13 người ở Thanh Hóa nhập viện với triệu chứng đau bụng, nôn, tiêu chảy nghi ngộ độc. Bộ Y tế yêu cầu khẩn trương điều tra làm rõ.

Sau ba ngày đầu năm, thị trường hàng hóa cả nước trong ngày Mùng 4 Tết Bính Ngọ 2026 đã dần hoạt động trở lại. Nguồn cung được tăng cường, hệ thống phân phối mở cửa đồng loạt, sức mua ở mức vừa phải nên giá cả nhìn chung ổn định, không có biến động bất thường.

Những ngày đầu xuân Bính Ngọ 2026, người dân khắp cả nước nô nức rủ nhau đi lễ. Trong các điểm đến tâm linh trên địa bàn Thủ đô Hà Nội, Phủ Tây Hồ luôn là một trong những nơi thu hút rất đông đảo người dân về dâng hương, làm lễ đầu năm.

Khoảng 4h sáng ngày 20/2, sau 3 giờ tích cực tìm kiếm, Công an xã Tây Yên Tử và Tổ bảo vệ Công ty Dịch vụ Tây Yên Tử đã nhanh chóng tìm kiếm, đưa 4 du khách bị lạc trong rừng khi tham quan Khu du lịch tâm linh – sinh thái Tây Yên Tử, thuộc xã Tây Yên Tử, tỉnh Bắc Ninh về nơi an toàn.

Khi những cành đào trước ngõ vừa hé nụ, khói hương trầm ngày Tết còn vương trong sương sớm, thì ở nhiều trụ sở Công an trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, một ca trực mới đã bắt đầu. Không pháo hoa, không tiếng chúc Tết rộn ràng, thay vào đó là ánh đèn phòng làm việc xuyên Tết, là tiếng bàn phím gõ nhịp đều đều, là những dòng dữ liệu dân cư được cập nhật chính xác đến từng chi tiết. Với lực lượng Công an Thanh Hóa, Tết không chỉ là thời khắc sum vầy, mà còn là “thời gian vàng” để tăng tốc, hoàn thiện mục tiêu chuyển đổi số, bảo đảm quyền lợi thiết thực nhất cho nhân dân.

Ngoại hình “chuẩn người mẫu”, bộ vest đen lịch sự, cặp kính đen cùng phong cách đầy… lãng tử khi xuất hiện cùng dàn xe chuyên dụng của lực lượng Cảnh vệ CAND khiến Trung uý Phùng Thế Văn trở thành hiện tượng đặc biệt được quan tâm trong dịp đại lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9 (A80). Nhưng có lẽ, đến thời điểm hiện tại, vẫn ít người biết tường tận về người lính đặc nhiệm trẻ vẫn được cộng đồng mạng, nhất là người trẻ ví von là “soái ca Cảnh vệ” A80 này.

Chỉ trong 6 ngày (từ ngày 27 Tết đến mùng 3 Tết), qua công tác tuần tra, kiểm soát; lực lượng chức năng đã phát hiện, lập biên bản 717 trường hợp vi phạm, tạm giữ 261 phương tiện. Các trường hợp phần lớn vi phạm liên quan đến các lỗi: nồng độ cồn, tốc độ, chở hàng quá khổ, quá tải và các lỗi tiềm ẩn nguy cơ cao gây TNGT.

Những ngày Tết cổ truyền hầu như ai cũng mong được trở về bên gia đình, quây quần trong hơi ấm sum vầy nhưng với người chiến sĩ mang sắc phục Công an nhân dân ở xã Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá lại là thời điểm gác lại niềm riêng để bảo đảm an ninh trật tự (ANTT). Với họ, mùa xuân chỉ thật sự trọn vẹn khi từng con ngõ bình yên, từng mái nhà an vui; khi không còn những tiếng thở dài, lo âu trong khoảnh khắc giao mùa…

©2004. Bản quyền thuộc về Báo Công An Nhân Dân.
®Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Báo Công An Nhân Dân.
English | 中文