Đồng quê và cội rễ
Hội khoai mậm chúng tôi hẹn ba năm gặp nhau một bận. Nhìn lên đầu nhau tóc có đứa đã sợi bạc, sợi đen. Thôi, đừng nhìn lên đầu nhau nữa để làm gì. Hãy dàn hàng ngang ra mà tìm khoai mậm, để lấy cái cớ ấy mà được úp mặt vào đồng bãi quê mình vậy.
Ba mươi tuổi đầu với ồn ào phố xá, sao ta vẫn quay quắt trong lòng nỗi nhớ - nhớ đồng. Tuổi thơ của ta dằng dặc những vui buồn. Bên dáng mẹ tảo tần, nỗi nhớ đồng ẩn hiện. Nó như là chứng nhân của tuổi thơ ta vậy.
Trong miên man nỗi nhớ đồng - ta nhớ nhất mùa tháng năm, tháng sáu, mùa dỡ lạc dỡ khoai, lũ trẻ nít như ta tóc khét lẹt mùi nắng, da nồng nàn mùi trâu bò, đất đai đồng bãi dàn hàng ngang lom khom tìm mầm khoai còn sót từ tháng trước. Con nít chúng ta cũng nghiệm ra chân lý "con cá mất là con cá to" từ những thủa miệt mài tìm khoai sót như thế này đây. Những củ khoai to nhất, nạc nhất thường nặng hơn những củ khoai khác nên dễ bị đứt vùi trong cát để tháng sau lũ trẻ mục đồng mải mê tìm kiếm. Những ánh mắt rạng rỡ reo lên như vỡ chợ khi thấy từng đám mầm khoai tím sẫm nhoi lên, nhú như chông vừa đâm qua làn cát ẩm. Đó thực sự là báu vật, là chút lộc rơi, lộc vãi của đồng.
Khoai mậm là thứ khoai ngon nhất của một đời khoai, khoai mậm ở đồng lại càng ngon khó tả. Những người đã gắn bó máu thịt với đồng đều hiểu được rằng, khoai mới bới không phải là khoai ngon. Chỉ thứ khoai mẹ đã đổ gầm giường cho lên mầm, tinh bột hai phần đã biến thành đường mới là thứ khoai đắc địa. Loại khoai này khi luộc có nhựa sánh và hơi đen chạy ngoằn ngoèo dọc thân củ, mẹ gọi là "mật khoai". Đó là thời điểm củ khoai vật vã với thiên nhiên, biến đổi hết mình dâng cho đời bao tinh tuý.
Thủa ấu thơ của ta khoai mậm mọc giữa đồng mới thực gọi là "cao lương mỹ vị". Có lẽ ngon ở cái ăn phần ít mà ngon ở cách ăn phần nhiều. Cái thứ khoai này ăn sống ăn chín hay dở sống, dở chín đều ngon. Thèm đến mức không chịu nổi thì tìm vũng nước đọng nào đó, lau rửa cho củ khoai bóng lên, chùi sơ sài vào vạt áo và cứ thế lũ trẻ chúng tôi "ngự thiện". Lạ là vị khoai giòn tan, ngọt ngào này chẳng bao giờ làm chúng tôi đau bụng. Đứa nào can đảm hơn thì vơ vội rơm rạ đốt lửa nướng lên. Khổ nỗi vừa nướng vừa thèm một chốc lại khều ra để rồi củ khoai dở sống dở chín… vẫn ngon. Nó hơi sượng, nước mật mới kịp rịn ra lại có vị riêng của nó.
Nhưng "nghề chơi cũng lắm công phu", ai muốn ăn được củ khoai ngon phải học được chữ "nhẫn" ở đời. Đốt một đống than củi cho to, để than giảm độ mới lùi khoai vào, kiên nhẫn chờ khi nghe mùi khoai ngọt ngào tan trong gió mới được dỡ ra. Vỏ khoai không cháy mà chỉ nhăn đều một lượt. Vừa bóc, vừa thổi, vừa ăn, mặt mũi nhễ nhại mồ hôi, nhọ ngang nhọ dọc. Vị khoai tan vào tiếng cười như nắc nẻ…
Giờ ngồi ngẫm lại nhóm ăn khoai mậm ngày nào mới thấy cách ăn như "vận" vào đời từng đứa. Thằng bạn suốt đời ăn sống là thằng bạn học xong lớp sáu thì nghỉ học. Chớm vào tuổi kết hôn đã lấy vợ, sinh con - và gắn bó với đồng. Mấy đứa chúng tôi thì cố gắng học đại học xong, rồi công chức làng nhàng, dở sang, dở hèn, là minh chứng cho những thằng "dở sống, dở chín" ngày nào. Chỉ có thằng luôn kiên nhẫn và đúng thời, đợi củ khoai chín mềm giờ đã thành quan to một tỉnh.
Trong mê man của những lần sốt nặng, tôi bao giờ cũng thèm nao lòng miếng khoai nướng ngày xưa. Vậy mà khi đứa con gái mua về, miếng khoai cứ nhạt thếch trong miệng. Thiếu một chút nắng, một chút gió, một tiếng cười giòn và hơi hướng của đồng, củ khoai không còn là nó nữa