Làm báo ở núi rừng Việt Bắc
Hằng ngày, toà soạn Báo Cứu quốc biên tập xong số báo, có người băng rừng đem bài, tin đến nhà in Báo Cứu Quốc ở xã Hợp Thành, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Cũng mất cả ngày đường, rồi từ đó, khi báo in xong, các chiến sĩ giao thông thay phiên nhau gánh báo đi phát hành ở các tỉnh.
Cách đây đúng 60 năm, các cơ quan báo của ta rời Hà Nội chuyển lên Việt Bắc. Báo chí Việt Nam trải qua những năm tháng kháng chiến trường kỳ, gian nan và anh dũng, đã viết nên những trang sử đẹp cho cách mạng. Bài này chỉ ghi lại vài nét hoạt động của một trong nhiều tờ báo kháng chiến, Báo Cứu Quốc, cơ quan trung ương của Tổng bộ Việt Minh.
Nhà báo cách mạng đầu tiên làm báo trong rừng Việt Bắc là Nguyễn Ái Quốc. Người ăn sắn, ở lán cỏ trong rừng Khuổi Nậm, tỉnh Cao Bằng để sáng lập, biên tập, tự tay in trên đá Báo “Việt
Những người làm báo hằng ngày Cứu Quốc của Mặt trận Việt Minh tại ngôi nhà đẹp ba tầng bên Hồ Gươm Hà Nội sau Cách mạng Tháng Tám 1945, không ngờ lại có lúc cũng phải chuyển đi làm báo trong rừng Việt Bắc. Sau khi tiếng súng kháng chiến toàn quốc bùng nổ, dưới sự chỉ đạo của anh Xuân Thuỷ, Chủ nhiệm và Chủ bút, toà soạn và nhà in Báo Cứu Quốc rời vào Hà Đông, lên Phú Thọ và tới rừng Tuyên Quang một ngày tháng 4/1947.
![]() |
|
Đồng chí Léo Figuères, Trưởng đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Pháp (đứng giữa, mặc mặc áo trắng - đứng bên trái là đồng chí Xuân Thủy, bên phải là đồng chí Nguyễn Thành Lê) thăm Báo Cứu Quốc trong rừng năm 1950. |
Tôi và các phóng viên trẻ của Báo Cứu Quốc lần đầu tiên được thấy chiến khu. Âm u, huyền bí nhưng hùng vĩ. Mùi hăng của lá, giọng hót của chim, tiếng gầm của hổ, suối chảy róc rách, mõ trâu thả rông lốc cốc và mưa rừng ập xuống rào rào. Trong khi các đồng nghiệp tải đồ qua bến Bình Ca để đi vào châu Tự Do, tôi lên cơn sốt rét, được phép của anh Xuân Thuỷ nằm lại ở một ngôi nhà bên sông Lô. Trùm chăn kín đầu mà toàn thân cứ run lên cầm cập. Người ta bảo đấy chính là sốt rét ác tính. Bỗng có tiếng anh em trong cơ quan chạy vào hớt hải: “Anh Hoàng Hữu
Anh Hoàng Hữu
Báo Cứu Quốc di chuyển lên phía thị xã Bắc Kạn. Tôi được giao nhiệm vụ cùng một số anh em đi lập cơ quan dự bị của Báo Cứu Quốc đặt ở huyện Chợ Đồn, phòng khi cơ quan chính bị đánh phá. Từ thị xã Tuyên Quang, thuyền của chúng tôi chở máy móc, vật tư, tài liệu của báo ngược sông Lô và sông Gâm. Nhân dân địa phương có câu: “Ăn nước sông Gâm, không câm thì điếc”. Đến bữa, nấu cơm trên thuyền. Giữa đường, bắt gặp một thuyền to chở chiếc máy bay Moran cánh quạt lấy của Pháp cũng ngược sông lên khu an toàn.
Chúng tôi cập bến Đầm Hồng, thuộc huyện Chiêm Hoá. Từ đây có đường sắt chạy vào Bản Thi dài mấy chục cây số. Bản Thi là mỏ kẽm của Pháp, nay là nơi đặt nhà máy in tiền Cụ Hồ của Bộ Tài chính. Chúng tôi dùng xe goòng đẩy tay vận chuyển các thứ vào phía Bản Thi và lập cơ quan dự bị ở làng Tre Ngà, gần Bản Thi. Làng dựa vào một dãy núi đá có rừng rậm. Chân núi có bãi ổi đã chín vàng. Đàn sóc chạy nhảy trên các cành cây. Có một con hươu đứng ngơ ngác bên bờ suối.
Rừng Việt Bắc đối với chúng tôi đã trở nên hiền lành hơn. Cơ quan đã hoạt động, sẵn sàng ra báo bất cứ lúc nào. Tôi lại lên cơn sốt rét. Đồng bào địa phương đến thăm, đòi phải làm mâm xôi, con gà và đưa thầy mo đến cúng đuổi ma. Nằm trong chăn, tôi chỉ nghe mang máng có tiếng chiêng và tiếng hú gọi hồn.
Một ngày đầu tháng 10, vào lúc sáng sớm, sương núi chưa tan, có rất nhiều tiếng máy bay và tiếng bom nổ ở xa vọng đến. Có lúc, một vài chiếc máy bay Xpítphai của Pháp vòng trên bầu trời Chợ Đồn. Cán bộ địa phương đến báo tin: quân Pháp đã nhảy dù xuống thị xã Bắc Cạn!
Chúng tôi chuyển cơ quan ở Tre Ngà vào rừng sâu và lèn đá, dựng các lán tranh dọc suối, nơi đã có nhiều dân bản tản cư đến. Những vật nặng như thùng mực, chân đế máy in thì để lại chôn ở sân cơ quan rồi lấp cát. Đi lại giữa các lán cơ quan phải leo cây, bám dây rừng, đu từ mỏm đá này đến mỏm đá khác. Quân Pháp tràn đến xả súng, lùng sục cơ quan báo không tìm thấy gì rồi bỏ đi. Anh em cơ quan ăn mừng, làm bữa thịt chó. Bỗng đồng bào Tày trong bản khăn gói, bồng bế nhau bỏ nhà kéo hết lên đỉnh núi cao. Đồng bào rất sợ thịt chó, cho là đồ ăn của ma quỷ.
Có điện của anh Nguyễn Lương Bằng, bí danh Cù Vân, một trong những đồng chí lãnh đạo cao cấp của Tổng bộ Việt Minh, gửi đến cho tôi chỉ thị phải lên ngay phía thị xã Bắc Kạn tham gia công việc đi tìm anh Trường Chinh, anh Xuân Thuỷ có tin mất tích sau vụ quân Pháp nhảy dù.
Tôi mang theo cơm nắm, muối rang đi từ Chợ Đồn đến Bản Thi, ngồi thuyền độc mộc qua hồ Ba Bể rồi tới Chợ Rã, Phủ Thông. Các khoảng đất trống bên đường đều cắm đầy cọc tre vót nhọn để chống quân địch nhảy dù. Những đồi cỏ tranh lút đầu người. Đường rừng, dòng người ồn ào, rầm rập đi chiều ngược lại. Đấy là cán bộ các cơ quan trung ương chạy khỏi thị xã Bắc Kạn, chống gậy đi trên đường mòn, bì bõm trong bùn rừng, các bộ trưởng, thứ trưởng, vụ trưởng, văn nghệ sĩ quen biết chào nhau, hỏi thăm tin tức của nhau và tình hình chiến sự.
Tôi đến cơ quan Báo Cứu Quốc mới dọn về rừng Khuổi Khún, giữa đường Phủ Thông - Chợ Rã, có bản đồng bào Dao đỏ sơn đầu ở lưng chừng núi. Mừng rỡ được thấy anh Xuân Thuỷ luồn rừng từ thị xã Bắc Kạn chạy được về đây. Anh Tiến, cán bộ Ban Trị sự báo, em Cầu, liên lạc viên 12 tuổi, suýt chết ở thị xã, vừa mới trở về cơ quan.
Cũng được tin vui anh Trường Chinh đã thoát khỏi vòng vây quân Pháp ở thị xã về tới căn cứ an toàn. Tôi gặp ở toà soạn Báo Cứu Quốc trong rừng Phủ Thông các nhà văn Tô Hoài, Nam Cao, họa sĩ Trần Đình Thọ... ngồi trong lán tranh, quây quần bên cái máy thu thanh nhỏ do anh Nguyễn Tiêu giữ. Mọi người trông hốc hác nhưng vẫn vui, vẫn viết và ra báo. Tiếng máy bay Đacôta vọng lại. Tiếng súng moócchiê của địch cầm canh.
Anh Xuân Thuỷ thông báo Trung ương vừa chỉ thị Báo Cứu Quốc phải chuyển về Bắc Giang. Các anh Tô
Cơ quan đóng ở Cầu Gồ, giữa những luỹ đất, hầm hào căn cứ Phồn Xương cũ của cụ Đề Thám. Báo Cứu Quốc Trung ương tiếp tục ra báo tại đây, với hai trang khổ lớn, số lượng phát hành 5.000 tờ. Lại còn ra Tạp chí Cứu Quốc với sự cộng tác của nhiều văn nghệ sĩ sống ở ấp Cầu Đen, gần Nhã
Có tin quân Pháp đánh lên phía Nhã
Hồi rút khỏi mặt trận Hà Nội về Hà Đông đầu năm 1947, tôi được anh Xuân Thuỷ cử theo lớp một tháng học in litô, in báo trên đá, do anh Phạm Đức Khiêm dạy. Anh Phạm Đức Khiêm là người in litô Báo Cờ Giải Phóng thời bí mật. Rừng Yên Thế ẩm ướt, tối tăm, sương đọng rơi lộp bộp xuống các lá cây. Đêm nằm giường nứa, sáng dậy đã thấy cây non trong rừng mọc đâm lên qua dát giường. Anh em dựng lán nứa lợp tranh làm nơi ăn ở, viết bài. Mùa đông ở rừng đầu tiên trong đời chúng tôi, trời rét buốt thấu sương. Gạo chưa chuyển lên kịp, cả cơ quan ăn sắn. Thi thoảng có cơm ăn trong bát là khúc ống bương, còn cốc uống nước là khúc ống nứa.
Giữa đêm, một số anh rủ nhau vào rừng đi săn, cố kiếm con cầy hương. Một lần, cơ quan mua về một con trâu già để cải thiện đời sống, gọi là “ăn tươi”. Mổ ra thấy gan trâu đầy sán. Ai cũng đang thèm thịt nên đồng thanh cứ cho nấu chín là ăn tốt. Quân Pháp rút quân về Hà Nội. Nhưng toà báo vẫn đóng ở Đèo Bụt một thời gian.
Báo Cứu Quốc Trung ương dọn về xóm Roòng Khoa, xã Điềm Mặc, huyện Định Hoá, Thái Nguyên vào năm 1950. Anh em gọi huyện Định Hoá là “thủ đô kháng chiến”, vì các cơ quan lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Quân đội, Công an, Mặt trận Việt Minh đều đóng ở đây. Từ Định Hoá, các cơ quan khi cần có thể di chuyển rất nhanh sang địa phận tỉnh Tuyên Quang bên kia núi Hồng cao ngất. Từ đường huyện vào cơ quan Báo Cứu Quốc phải lội qua hàng chục con suối và leo nhiều dốc cao, đi theo đường mòn chằng chịt, rất dễ bị lạc, tới một cánh rừng rậm.
Trong bản có khoảng ba nóc nhà. Muốn sang một bản khác phải trèo qua vài ngọn đồi và dăm cánh rừng. Toà soạn gần 20 người ở nhờ nhà anh Triệu Đình Quân, một đảng viên người Tày, suốt ngày bận việc xã. Mẹ anh bị liệt, hai con nhỏ, một trai một gái, đi học về giúp chăn trâu. Vợ anh đảm đang lo toan mọi việc từ cày bừa, trồng cấy đến trông nom gia đình.
Anh chị Quân nhường cho toà soạn Báo Cứu Quốc cả một góc rộng nhà sàn. Dưới gầm nhà gia đình nuôi trâu, phân trâu bốc mùi nồng nặc. Bếp củi giữa sàn đỏ rực suốt ngày đêm là nơi đến bữa gia đình đun nấu, không có gì nhiều, vì cả nhà chỉ đủ thóc ăn bảy tháng, năm tháng còn lại phải đi đào củ mài ăn. Đấy cũng là nơi chúng tôi nhờ ánh lửa để đọc tài liệu và họp bàn công việc hàng ngày. Anh nào muốn ngồi khuất một chỗ để viết bài lúc đêm thì có đĩa đèn dầu lạc.
Làm báo hàng ngày trong rừng sâu trước hết phải lo việc thông tin. Báo có một tổ điện đài khá mạnh gồm nhóm thu tin và nhóm máy nổ do bác Minh phụ trách. Chúng tôi gọi đây là “trái tim” của toà soạn. Mưa bão, lũ quét xảy ra, cả toà soạn chạy đến hỏi thăm. Phóng viên đi chiến dịch quân sự về có quà chiến lợi phẩm như vài hộp bơ, hộp thuốc lá êranhmo đều đem tặng các đồng chí.
Nhóm thu tin từng buổi thu tin của các hãng thông tấn phương Tây AFP, AP, UPI, Reuters, thu tin đọc chậm của Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam để biên tập lại cho báo. Nhiều khi mở máy thu thanh, bắt trúng làn sóng của quân Pháp gọi nhau ngoài mặt trận. Một lần, Bộ Tổng tư lệnh ta tặng cho Báo Cứu Quốc một máy ragônô thu được của quân Pháp, là máy thu phát quay tay.
Nhờ chiếc máy hiện đại này, toà soạn nhận trực tiếp tin bài của phóng viên và hướng dẫn công tác cho các phóng viên hoạt động ở xa cơ quan, nhất là ở các mặt trận. Ngoài ra, còn điện về các chi nhánh Báo Cứu Quốc ở các liên khu kháng chiến nội dung số Báo Cứu Quốc Trung ương để in lại phát hành tại chỗ. Hàng ngày, chúng tôi cử người đến cơ quan Việt Nam Thông tấn xã, bí danh là T6, đi về qua các cánh rừng hết trọn nửa ngày để lấy các bản tin.
Hằng ngày, toà soạn biên tập xong số báo, có người băng rừng đem bài, tin đến nhà in Báo Cứu Quốc ở xã Hợp Thành, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Cũng mất cả ngày đường, rồi từ đó, khi báo in xong, các chiến sĩ giao thông thay phiên nhau gánh báo đi phát hành ở các tỉnh. Anh Hoàng Phong phụ trách đọc soát morát báo trước khi in, phải ăn ở ngay tại nhà in, rất xa cơ quan chính, lủi thủi, yên tâm với công việc đó trong rừng sâu suốt mấy năm liền.
Có lần, nhà thơ Xuân Diệu gọi chiến khu là “u tì quốc”. Nhưng làm báo trong rừng cũng có những hạnh phúc nho nhỏ. Mỗi khi có tin cơ quan T6 buổi tối chiếu phim trên bãi rộng, cán bộ, phóng viên, nhân viên Báo Cứu Quốc hồ hởi ăn cơm sớm, đốt đuốc băng qua gần mười kilômét đường rừng nô nức đi xem phim “Công phá Bálinh” và “Bạch mao nữ”.
Chiều đến, mỗi người ra vườn tưới bón luống rau cải nhận khoán của nhà bếp. Cách toà soạn hơn 1 kilômét, có quán nước do bà Đức, mẹ một cán bộ đi tản cư mở trong một hẻm núi giữa rừng. Quán nhỏ khoảng hai mét vuông chỉ bán nước chè Thái Nguyên, thuốc lá Sầm Sơn và kẹo lạc, nhưng là một điểm hẹn vui vẻ giữa rừng của các nhà báo.
Gần cơ quan Báo Cứu Quốc có cơ quan Tổng bộ Việt Minh, cơ quan Mặt trận Liên Việt, cơ quan Ủy ban Bảo vệ Hoà bình thế giới của Việt Nam... mà anh Xuân Thuỷ đều tham gia lãnh đạo. Những cơ quan này thường có những đoàn đại biểu đi dự các hội nghị quốc tế trở về, tổ chức những buổi nói chuyện sinh động về nhiều nước trên thế giới, làm náo nức cả một khu rừng.
Vào dịp nghỉ lễ, một số nhà báo trẻ rủ nhau vượt núi, lội suối đi hơn mười kilômét ra tới chợ Quảng Nạp chỉ để uống một tách cà phê đen và để thấy đời. Bác Tôn Đức Thắng cũng có lần từ cơ quan ra đây ngồi nhìn chợ. Bác đã ở tù Côn Đảo 15 năm lại đi vào sống trong rừng sâu nhiều năm tháng, cũng rất khát khao nghe “tiếng đời lăn”.
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Báo Cứu Quốc cùng các cơ quan trung ương di chuyển về phía thị xã Thái Nguyên. Các khu rừng tưng bừng niềm vui chiến thắng và cơ quan báo náo nức chuẩn bị ngày rời thủ đô kháng chiến để trở về Thủ đô Hà Nội. Trên một ngọn đồi của huyện Đại Từ, trong hội trường lớn có đèn điện và máy phát thanh, chúng tôi tràn ngập vui sướng và xúc động đón chào Bác Hồ đến nói chuyện.
Bác căn dặn nhiều điều khi về Hà Nội: trật tự, kỷ luật, an toàn và có văn hoá. Cánh rừng Việt Bắc cuối cùng đó mà chúng tôi từ giã để tiến về Hà Nội sau chín năm kháng chiến là vạt rừng xóm Vai Cày, xã Bản Ngoại, nay mang tên xóm Đồng Mu, đồi Thanh Trúc của huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
