Một dòng văn chương liên quan đến Thăng Long - Hà Nội
Có thể gọi đó là dòng văn chương Tây Sơn, bởi nó ra đời dưới triêù đại cuả Quang Trung, bắt nguồn từ khởi nghĩa Tây Sơn. Nói đến điạ danh này, bất cứ người Việt Nam nào cũng trỗi dậy niềm tự hào, vì từ đây đã sản sinh ra một người anh hùng áo vải lỗi lạc, vị cứu tinh cuả dân tộc vào giai đoạn lịch sử đã nói ở trên.
Vào thời ấy, dòng văn học Tây Sơn này có rất nhiều thể loại: Thơ ( chữ Hán, chữ Nôm), Văn tế, Hịch, Tiểu thuyết lịch sử, Chiếu, Biểu... Những người quan tâm đến văn học cổ nước nhà, không ai lại không biết tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí cuả Ngô gia văn phái ( các tác giả thuộc họ Ngô Thì như Ngô Thì Nhậm, Ngô Thì Sĩ, Ngô Thì Trí... quê ở Tả Thanh Oai, Hà Đông). Đây là một bộ tiểu thuyết lịch sử đồ sộ, phản ánh, miêu tả hiện thực nước nhà trong suốt 30 năm vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX mà nổi bật là sự kiện nổi dậy với chiến công hiển hách của phong trào nông dân Tây Sơn, đứng đầu là ngưòi anh hùng áo vải Nguyễn Huệ, sau khi dẹp tan 20 vạn quân Thanh, lên ngôi hoàng đế xưng là Quang Trung. Hình tượng Quang Trung được khắc hoạ đậm nét trong tiểu thuyết này đã như một viên ngọc chói sáng bên cạnh những trang miêu tả rất sinh động hiện thực xã hôị , nội tình triều chính đương thời. Tuy là tiểu thuyết chứ không phải là một cuốn thông sử, nhưng đọc Hoàng Lê nhất thống chí, người ta có thể hiểu tường tận xã hội phong kiến Vịêt Nam mấy trăm năm về trước.
Về thơ chữ Hán liên quan đến đề tài Thăng Long - Hà Nội, thời này có các tên tuổi: Nguyễn Thiếp, Ngô Thế Lân, Phan Huy Ích, Ngô Thì Nhậm, Đoàn Nguyễn Tuấn, Ngô Ngọc Du, Ngô Thì Trí, Bùi Dương Lịch... Lê Ngọc Hân có 2 bài Văn tế nổi tiếng viết bằng chữ Nôm: Ai tư vãn và Văn tế vua Quang Trung. Ngoài ra, Nguyễn Hữu Chỉnh cũng có Văn tế chị. Nữ hoàng thơ trào phúng Hồ Xuân Hương với những bài bất hủ lưu truyền khắp bàn dân thiên hạ cũng sáng tác dươí thời Tây Sơn tại Thăng Long. Một cây bút khá đặc sắc khác là Nguyễn Huy Lượng có 2 tập thơ nói đến Thăng Long là Phú tụng Tây Hồ và Cung oán thi. Tập Phú tụng Tây Hồ được sáng tác vào mùa hè năm Tân Dậu (1801). Mượn việc tả cảnh Tây Hồ, tác giả muốn ca ngợi, đề cao vai trò cuả nhà Tây Sơn đối với sự phát triển cuả lịch sử đất nước. Sau khi tả cảnh với nhiều địa danh hữu tình như chùa Trấn Vũ, toà Kim Liên, cảnh Bà Đanh, hồ Trúc Bạch, Nghi Tàm, chày Yên Thái, gò Châu Long, đền Voi Phục... nhà thơ nói đến cảm hứng cuả vua Quang Trung như sau:
Vầng trăng nọ buổi tròn buổi khuyết.
Ngọn nước kia, nơi hoắm, nơi nhô.
Tới Mậu Thân rực rỡ vẻ tường vân.
Sông núi khắp nhớ công đãng địch.
Qua Canh Tuất lại tới cơn thời vũ.
Cỏ cây đều gội đức triêm nhu...
Trong dòng văn chương thời Tây Sơn, có mảng thơ ca ngợi thiên nhiên, ca ngợi non sông đất nước, khơi gợi lòng tự hào, nhắc nhở mọi người phải luôn ý thức về biên cương, bờ cõi: Ngô Thì Nhậm có bài Nhuệ Giang phiếm chỉ, Giang Thiên văn diễn. Ngô Thì Điền có Tây phương sơn tự, Trung thu dạ ngọ vũ. Cao Huy Diệu có Bát Tràng ngọ bạc. Vũ Huy Tấn trong bài Vịnh đồng trụ cảm hoài có viết thật thống thiết:
Than ôi! Cột đồng kia, cõi nước ta xưa đó
Từ thuở Trưng Nữ Vương, mà Viện bày ra nó
Son phấn thật anh hùng. Ngàn năm còn rạng vẻ
Khá giận đứa gian tà. Cắt dâng không tiếc rẻ
Rang giới bị phai nhoà . Tới nay bao thế kỷ
Nam Bắc chia rành rẽ - Mất mãi phải thu về
Dấu lạ quên sao nhỉ?
Nhưng nổi bật nhất, là trung tâm cuả dòng văn học Tây Sơn vẫn là hình tượng Nguyễn Huệ - Quang Trung, người anh hùng đã đem lại sự thay đổi lớn lao cho đất nước nói chung, kinh thành Thăng Long nói riêng. Đó là một con người vĩ đại với bản chất “Đạo cao năm đời đế, đức vượt ba khí thiêng”, một anh hùng dân tộc văn võ song toàn “oai vũ mà nhân hậu”, với chính sách ngoại giao hết sức mềm dẻo “ngọn bút thay giáp binh” đã cứu được hàng triệu dân hai nước tránh được cảnh nồi da xáo thịt, cốt nhục tương tàn. Ngô Thì Nhậm viết về Quang Trung là “Bậc Thánh hiền, bậc Thánh thông minh”. Ngay cả dứơi triêù đình nhà Thanh, cái chết đột ngột cuả Quang Trung đã để lại niềm tiếc thương, bởi họ vô cùng bái phục tài cao, đức dày cuả vị vua nước Nam.
Trong tờ biểu cuả đình thần văn võ xin vua Quang Trung ngự giá ra Thăng Long đã mở đầu: “Chúng tôi phụng y theo nguyện vọng thần dân Bắc Hà tâu xin xa giá ra Thăng Long, theo kinh đô cũ cuả các nhà Lý - Trần - Lê mà vĩnh viễn đặt kinh kỳ ở đây để thoả lòng dân trông ngóng. Chúng tôi được thấy Thánh Thiên tử, thuận ý trời, mở vận nước, thống nhất cõi bờ, rộng xa trời đất đều được bao dung...”
Viết về chiến công cuả Thăng Long - Hà Nội thời nhà Tây Sơn, một tiến sĩ có tên Ninh Tốn quê ở Ninh Bình là công thần thời Lê - Trịnh đã viết những vần thơ đầy hào khí. Khi Nguyễn Huệ ra Bắc lần thứ hai, lúc đầu ông còn dè dặt nghi ngại, nhưng về sau, khi đã hiểu được đường lối chính nghĩa cuả người anh hùng áo vải, đã cộng tác đắc lực, giữ chức Hàn lâm trực học sĩ, rồi Thượng thư bộ binh. Ông có nhiều bài thơ hay mà Chương Dương mộ bạc là một bài tiêu biểu cho phong cách của Ninh Tốn. Còn Ngô Ngọc Du cũng viết về những sự kiện xảy ra dưới thời Tây Sơn đầy hào khí trong bài Long thành quang phục kỷ thực ( ghi chép việc khôi phục thành Thăng Long):
“Lũ giặc vì sao cắn càn?
Quân ta nổi giận, trổ oai thần.
Ruổi dài thắng lợi bao thần tốc.
Như trên trời xuống, khôn cản ngăn.
Một trận “rồng lửa” giặc tan tác.
Bỏ thành, cướp đò dành lối thoát.
Mưa tạnh, mù tan, thấy mặt trời.
Khắp thành già trẻ mặt bừng tươi.
Chen vai thích cánh cùng nhau nói:
“Cố đô nay lại cuả ta rồi!”
Nhìn lại dòng văn chương thời Tây Sơn liên quan đến Thăng Long - Hà Nội, ta thấy toát lên một âm điệu chung: hào sảng, tự hào về non sông đất nước, ý thức sắt đá về lòng tự tôn tự cường, không chấp nhận sự lép vế trước bất cứ thế lực ngoại bang nào. Sức sống cuả dòng văn học này là mãnh liệt, không dễ bị huỷ diệt. Mọi thức giả, dù là hàng vua quan hay sĩ phu Bắc Hà đều tỏ thái độ rất trân trọng. Năm Minh Mạng thứ 8, nhà vua đã ra lệnh sưu tầm tất cả mọi tài liệu , tác phẩm cuả triều đại Tây Sơn, bởi ông cho rằng “ Đó là dấu tích một đời, không thể lãng quên”.
Qua đó chứng tỏ sự trừơng tồn cuả những giá trị nhân văn trong dòng Văn học Tây Sơn - Một dòng văn học chứa chất rất nhiều dấu ấn lịch sử và hàm chứa nhiều ý nghĩa sâu sắc. Từ đó ảnh hưởng rất nhiều đến những giá trị văn hoá cuả Thăng Long - Hà Nội sau này