Một người anh lớn, một người thầy
Quãng đầu những năm 70 của thế kỷ trước, tôi tập tọe cầm bút viết văn. Gọi viết văn cho sang, chứ thực ra, chỉ là những truyện ký mà thời ấy người ta vẫn giễu truyện ký là "hố xí hai ngăn". Bởi vì nó dở văn, dở báo. Thậm chí văn chả ra văn, báo không thành báo. Tôi điếc không sợ súng. Tôi đem những truyện ký ấy gửi cho tờ Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Tôi vừa tự tin, vừa thấp thỏm, mong đợi, hy vọng truyện ký của mình sẽ được in. Chữ tôi xấu. Nhưng thời ấy ít người gửi bản đánh máy mà chủ yếu là bản viết tay.
Tôi thật bất ngờ, mươi hôm sau, tôi đã nhận được thư trả lời của nhà văn Từ Bích Hoàng. Chữ ông nhỏ, đều, không thiếu một nét, được viết trên tờ giấy nhỏ công sở in sẵn các tiêu đề. Ông nói đã đọc kỹ truyện ký của tôi và nhấn mạnh, nếu tôi có điều kiện thì cố gắng đến tòa soạn Tạp chí ở nhà số 4, phố Lý
Lúc đó, tôi đang đóng quân ở sân bay Bạch Mai. Hẳn ông đoán biết phương tiện đi lại với người lính cực kỳ khó khăn. Do vậy, ông còn hướng dẫn tôi đi tàu điện Vọng - Yên Phụ, đến đầu phố Hàng Cót thì xuống. Từ đó đi bộ sang tạp chí gần lắm. Độ 100m thôi.
Đọc thư ông, tôi cảm động cay sè cả sống mũi. Tôi đọc đi đọc lại, thuộc cả dấu chấm, dấu phẩy và nét chữ của ông. Tôi trân trọng cất lá thư đi. Tuy vậy, thường ngày, vào lúc rỗi, tôi lại đem ra đọc. Tôi mong ước, nôn nóng có được thời cơ để đến gặp ông.
Bởi thời ấy, lính tráng chúng tôi, dù cho là lính làm báo, làm văn hay lính gì đi nữa, đi ra khỏi doanh trại, không có lý do chính đáng, dễ bị kỷ luật lắm. Kỷ luật thời chiến cơ mà. Anh Lưu Quang Vũ, một nhà thơ tài năng, chỉ vì thỉnh thoảng trốn đi chơi với người yêu, còn bị kỷ luật rất nặng nề nữa là tôi, tài hèn, sức mỏng.
Hơn nữa ông X.M, Tổng biên tập báo chúng tôi còn có quy định rất kỳ quái. Chỉ được viết bài cho báo nhà. Tuyệt đối không được gửi báo ngoài. Do vậy, mỗi lần bài được in ở báo khác, chúng tôi đều bị kiểm điểm gay gắt. Bao lần kiểm điểm. Bao lần nhận sửa chữa. Nhưng "chết cái nết không chừa".
Chúng tôi vẫn thức thâu đêm, hý hoáy viết bài gửi đi, để rồi lại bị nhắc nhở, bị kiểm điểm. Bởi có "vấn đề" nên nhiều năm không được lên cấp, không được chuyển sang quân nhân chuyên nghiệp. Mặc. Chúng tôi thà chịu thiệt thòi, kém bạn, kém bè chứ không thể không viết. Tôi ghi lại mấy dòng này để thấy bây giờ bạn viết trẻ sướng đến nhường nào.
Rồi thời cơ gặp nhà văn Từ Bích Hoàng cũng đến với tôi.
Hôm ấy, mấy anh em đi thăm anh Hà Bình Nhưỡng bị đau gan, nằm điều trị ở Bệnh viện Quân chủng thuộc phường Tân Mai, quận Hoàng Mai ngày nay. Xong việc, hẹn nhau quãng 11h30', 12h mới trở về đơn vị.
Theo hướng dẫn của nhà văn Từ Bích Hoàng, tôi hộc tốc nhảy lên tàu điện Vọng - Yên Phụ.
Đến nhà số 4 phố Lý
Bác thường trực bảo tôi chờ ngoài phòng khách. Tôi đứng ngồi không yên. Hồi hộp và lo sợ. Chỉ lát sau, đã thấy một người dong dỏng cao và gầy, mặc bộ quân phục bằng vải Tô Châu, mang hàm thiếu tá, cặp kính trễ xuống gần cánh mũi bước vào. Tôi chợt nghĩ, chắc là nhà văn Từ Bích Hoàng.
Tôi vội bước lại gần ông. Ông chìa bàn tay xương xảu nổi gân xanh với những ngón rất đẹp bắt tay tôi. Ông bắt nhẹ nhàng mà thắm thiết, thân tình. Còn tôi hai bàn tay pháo thủ số 5, pháo 57 ly, quen bê những băng đạn nửa tạ
Ông thong thả đặt bàn tay phải lên ngực trái, nói rất nhỏ, chỉ vừa đủ cho tôi nghe:
- Tôi là Từ Bích Hoàng, phụ trách phần văn xuôi của tạp chí.
Nhà văn Từ Bích Hoàng đây ư? Nhà văn đầy uy tín mà tôi mong ước được gặp đây thật ư?
Ông họ Trần, sinh trưởng trong một gia đình thuộc hàng danh giá ở Hà Nội. Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ông đã tốt nghiệp Trường Y, là một trong những bác sĩ ít ỏi của thời ấy. Ông cùng học và kết nghĩa anh em với bác sĩ Từ Giấy nên hai ông đều mang họ Từ. Ông đi chiến khu, nhưng không làm thuốc mà làm nghề văn. Lúc ấy, cả nghề thuốc, nghề văn đều rất hiếm hoi.
Bạn văn ở nhà số 4, thường gọi ông là Từ Bi Hồng. Phần tên thật ông là Hồng, Trần Hồng. Phần bạn bè coi ông như Phật đỏ. Ông là anh ruột nhà thơ Việt Phương, tác giả tập thơ "Cửa mở" nổi tiếng. Còn nhớ, năm 1960, tôi theo học ở trường cấp III thị xã Sơn Tây. Ông Mạnh Phúc, Bí thư Tỉnh đoàn Sơn Tây, mời ông Việt Phương về nói chuyện với thanh niên.
Thời ấy, phương tiện đi lại rất khó khăn. Vậy mà nghe nói ông Việt Phương nói chuyện, thanh niên các huyện Quốc Oai, Thạch Thất, Phúc Thọ, Quảng Oai, Bất Bạt, cách xa tỉnh lỵ hàng chục cây số, vẫn lũ lượt đi bộ từ chiều. Sân vận động chật cứng người, lặng phắc. Cho đến nay, tôi chưa thấy một diễn giả nào thu hút người nghe nhiều như thế.
Năm 1954, giải phóng Thủ đô, anh em nhà văn Từ Bích Hoàng từ chiến khu về, trở thành thần tượng của thanh niên Hà Nội, của trí thức thời đại. Đốc tờ, nhà văn Từ Bích Hoàng còn là một tay vợt bóng bàn siêu hạng.
Bây giờ, ông đứng trước mặt tôi lại mang dáng vẻ của một nhà hiền triết. Ông mời tôi ngồi xuống chiếc ghế bành nhỏ, kiểu cũ, không có đệm, còn ông ngồi ở ghế bên. Giọng khúc chiết, nhỏ nhẹ, ông bảo:
- Đọc truyện của Ngữ, tôi rất mừng. Tôi thấy Ngữ rất dồi dào vốn sống. Vốn sống ở làng quê. Vốn sống về người lính. Cho nên tôi tin Ngữ sẽ đi xa trên con đường văn nghiệp. Ngữ nên giấu kín chi tiết, khi viết Ngữ nên cân nhắc thật kỹ để tiết kiệm được chi tiết trong tác phẩm của mình. Có dịp thuận lợi, chúng tôi sẽ gửi Ngữ đi học lớp bồi dưỡng những người viết văn trẻ của Hội Nhà văn Việt
Khi chia tay, ông nói thêm:
- Ấy, chút nữa là tôi quên. Cái truyện của Ngữ, tôi đã biên tập. Tạp chí định sử dụng vào số… Ngữ đọc và so sánh với bài viết của mình, để rút kinh nghiệm. Về phía tòa soạn có gì sơ sót khi biên tập, rất mong Ngữ góp ý kiến, phê bình. Ngữ thường xuyên cộng tác với tạp chí nhé.
Sau buổi gặp ông, tôi luôn có cảm tưởng mình có một giấc mơ đẹp. Nhà văn Từ Bích Hoàng chính là vị tiên văn vạch lối, chỉ đường, tiếp sức, bảo trợ cho tôi.--PageBreak--
Mùa xuân năm 1971, quân ngụy Sài Gòn ồ ạt đổ bộ xuống Nam Lào hòng chặn con đường chiến lược vận chuyển vào Nam, thực hiện chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh của Tổng thống Mỹ Ních xơn. Nhà văn Đỗ
Đường phố Hà Nội mịt mù sương khói. Đi cách nhau một đoạn, chỉ nhìn thấy mờ mờ hình dáng. Chúng tôi phải có mặt ở phố Phùng Hưng trước 6 giờ để đúng 6 giờ, ôtô chuyển bánh. Chúng tôi đến nơi đã thấy nhà văn Từ Bích Hoàng. Ông căn dặn chúng tôi đủ điều.
Ông bảo, Đỗ
Trước sự quan tâm ân tình của ông, chúng tôi cảm động ứa nước mắt. Tôi tự hỏi, không hiểu có biên tập nào quan tâm đến anh em cộng tác viên của mình được như ông không. Sau này tôi được biết, tiêu chuẩn chè, thuốc lá của mình, ông để lại cả ở cơ quan. Các nhà văn, nhà thơ Vũ Cao, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Hải Hồ, Xuân Sách lúc nào đói thuốc, đói chè đến phòng ông đều được thỏa mãn bần cố (chữ của nhà văn Hải Hồ).
Phải nói nhà văn Từ Bích Hoàng rất kiệm chữ, kiệm lời. Lời nói của ông cũng trọng lượng như lời hứa. Số anh em viết văn ở Quân chủng Phòng không - không quân từ Đỗ Chu, Nguyễn Trí Huân đến Thao Trường (Nguyễn Khắc Trường) và tôi (Dương Duy Ngữ) đều lần lượt được ông nâng đỡ, tạo mọi điều kiện để được theo học trường bồi dưỡng những người viết văn trẻ.
Trước khi nhập trường, ông hẹn gặp tôi ở tòa soạn Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Vẫn căn phòng khách quen thuộc, vẫn những chiếc ghế bành nhỏ không có đệm cũ kỹ mà ấm áp, thân tình lạ thường. Nhà hiền triết, ông tiên văn Từ Bích Hoàng ngồi bên với tư cách người anh cả, người thầy, dặn dò tôi:
- Không một trường lớp nào có thể đào tạo được nhà văn, Ngữ ạ. Nhưng nhà văn lại rất cần phải học ở trường, ở lớp. Bởi ở đó kiến thức nhà văn sẽ được bồi đắp, được mở rộng, cộng thêm vốn sống học ở trường đời, nhà văn mới có thể đi xa, mới như cái cây được thường xuyên chăm sóc. Gốc có vững, rễ có sâu, cành lá mới tốt tươi, không sợ phong ba bão táp. Mong Ngữ cố gắng thu lượm được nhiều điều mới mẻ.
Xin bạn đừng nghĩ, những điều ông dặn là lý thuyết, là sáo rỗng. Đó thực sự là những lời được rút ra từ gan ruột với sự từng trải của một trí thức uyên bác. Do vậy, mấy chục năm đã đi qua, tôi đã ở tuổi xấp xỉ "xưa nay hiếm" nhưng tôi vẫn nhớ từng chữ, từng câu.
Những năm tôi tập tọe viết văn, hầu như nhà văn Từ Bích Hoàng ít viết, hoặc ông đã gác bút để có thời gian lo việc cơ quan và chăm sóc anh em viết trẻ. Trong lúc xã hội đang đua tranh danh lợi thì ông lại dửng dưng. Với người trí thức mẫn tiệp như ông, danh lợi chả có nghĩa lý gì. Có lẽ vì vậy, mãi tới năm 1984, tôi mới được đọc văn học. Lúc ấy tôi làm biên tập của Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Tập sách của ông mang tên “Hoa núi”. Tập sách này cũng không phải ông đưa tới nhà xuất bản. Ông nghỉ hưu lâu rồi. Và dường như ông đã quên hẳn chuyện văn chương.
Nhà văn Nguyễn Trí Huân, Ngô Vĩnh Bình, nhớ đến công lao của ông với Tạp chí Văn nghệ Quân đội, bàn với nhau, sưu tầm các bài viết của ông để in thành một tập. Đọc văn ông tôi cứ ngỡ ngàng. Văn ông đẹp quá! Sang trọng, tinh tế, trong veo như nước đầu nguồn. Thảo nào các nhà văn quân đội cùng trang lứa với ông rất kính trọng cốt cách của ông đã đành. Họ còn nể cả nghiệp văn ông nữa.
Tiếng Nghệ, giọng kim the thé, có lần nhà văn Hải Hồ nói:
- Ông Phật đỏ ở nhà số 4 này thật sự là một chiến sĩ dũng cảm trên mặt trận văn hóa văn nghệ. Ông Phật đỏ ấy thẩm văn rất tinh tường. Dám làm, dám chịu lấy.
Còn nhà văn Nguyễn Khải tâm sự:
- Nhà văn Từ Bích Hoàng rất có uy tín với cấp trên. Ông được cấp trên tin cậy, vì nể. Anh em đồng nghiệp quý trọng, kính yêu. Ở ban biên tập, có những truyện ngắn, anh em chưa thống nhất ý kiến được với nhau. Người khen hay. Người bảo có vấn đề…
Cách tốt nhất là gửi cho nhà văn Từ Bích Hoàng. Đọc xong, nhà văn Từ Bích Hoàng mang bản thảo sang gặp anh em biên tập. Nếu ông nói: "Cái truyện này, tôi thấy chưa nên dùng" là thôi luôn. Khỏi phải băn khoăn, tranh cãi, nuối tiếc nữa. Nếu ông nói: "Tôi thấy có thể dùng được" thì tất cả yên tâm thở phào nhẹ nhõm. Truyện ngắn “Im lặng” của nhà văn Nguyễn Ngọc Tấn (Nguyễn Thi) trước kia và sau là truyện ngắn “Hoa cúc biển” của nhà văn Nguyễn Khắc Phục đều do nhà văn Từ Bích Hoàng quyết cả.
Xin được nói đôi điều về truyện ngắn “Hoa cúc biển”.
Lúc ấy đang có chiến tranh. Mỹ đã đổ 50 vạn quân vào miền
Nhà văn Từ Bích Hoàng nói ngắn gọn mà kiên quyết.
- Xin các anh yên tâm. “Hoa cúc biển” là một truyện ngắn tốt. Cái gì cũng phải có thời gian. Văn chương càng đòi hỏi thời gian.
Và thời gian đã chứng minh cho sự khẳng định của ông.
Sau này, gặp nhà văn Nguyễn Khắc Phục, tôi nhắc lại chuyện trên. Nhà văn Nguyễn Khắc Phục cười rạng rỡ.
- Thì cánh mình đều ở trong tay áo ông Phật Hồng bay ra cả