Nghệ nhân tuổi "cổ lai hy" trở thành người anh hùng
Đứa con của làng nghề
Ông sinh ra và lớn lên ở làng Mẹo, cái làng nhỏ nằm ở phía
Sử sách còn ghi rằng, nghề dệt vải ở làng Mẹo có từ thời nhà Trần và chính thân phụ Thái sư Trần Thủ Độ là người đầu tiên có công khai phá, dựng ấp, dựng làng và dạy nghề cho các cư dân ở đây. Từ đó đến nay, qua bao thế hệ, nghề dệt của làng Mẹo cứ như những chiếc khung cửi đêm ngày dệt ra những tấm vải phục vụ cuộc sống dân sinh. Không phụ bàn tay khối óc của con người, ngay từ năm 1937 của thế kỷ trước, những lô hàng đầu tiên của làng đã được xuất khẩu đến thị trường Nhật Bản. Và cũng từ thời điểm ấy, các thương gia người Nhật đã để mắt tới làng Mẹo.
Người có công trong việc thiết lập quan hệ làm ăn buôn bán với nước ngoài chính là cụ Trần Văn Tuân, ông nội của nghệ nhân Trần Văn Sen bây giờ. Song rất tiếc, công việc làm ăn đang tiến triển tốt thì chiến tranh thế giới lần thứ 2 nổ ra đẩy gia đình ông và các thợ dệt trong làng vào tình thế khó khăn. Đại chiến thế giới lần thứ hai kết thúc cũng là lúc Cách mạng Tháng Tám ở Việt
Khó khăn chồng chất khó khăn, tưởng chừng gia đình ông không vượt qua nổi. Nhưng với ý chí "Mất gì thì mất, chứ không thể để mất làng nghề"; các thành viên trong gia đình ông sau nhiều ngày đêm nung nấu đã tìm ra những định hướng dễ giữ làng nghề. Thời điểm đó, nghệ nhân Trần Văn Sen mới tròn 10 tuổi. Ở vào độ tuổi ấy, vậy mà ai có ngờ ông đã là một thành viên tích cực của gia đình trong việc nghiên cứu, sản xuất các sản phẩm như vải, khăn mặt, khăn tay, vải màn… nhằm phục vụ cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Chưa hết, những năm sau đó, ông còn xung phong thay bố, mẹ tham gia các đoàn dân công hỏa tuyến, gánh đạn vượt đèo phục vụ các chiến dịch.
Năm 1954, sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Genève được ký kết, hòa bình được lập lại ở miền Bắc; nghề dệt ở quê ông lại có dịp phục hồi. Nhưng do đất chật, người đông nên nhiều người đã phải rời làng ra đi lập nghiệp ở các nơi khác. Với ông Sen, tình yêu quê hương, yêu nghề đã níu kéo ông ở lại. Hơn lúc nào hết, ông nhận ra rằng, muốn duy trì và giữ nghề truyền thống cho quê hương cần phải bỏ tiền để đi học hỏi kinh nghiệm từ các nơi khác như làng nghề dệt lụa Vạn Phúc (Hà Đông), dệt Nam Định, v.v…
Sau những chuyến đi ấy, năm 1968, cùng với một số thành viên trong gia đình và dòng tộc, ông đứng ra thành lập tổ sản xuất để cho ra lò những sản phẩm phục vụ cuộc sống hàng ngày của người dân. Năm 1973, được chính quyền tỉnh cho phép, làng Mẹo quê hương ông đã thành lập Hợp tác xã Dệt nhuộm xuất khẩu. Ông được bà con tín nhiệm giao cho phụ trách khâu kỹ thuật. Với vai trò ấy, ông đã tích cực nghiên cứu và sản xuất thành công sản phẩm dệt lụa tơ tằm xuất khẩu sang Ba Lan và một số nước Đông Âu. Những kết quả ban đầu đã khích lệ ông tiếp tục nghiên cứu và đưa vào sản xuất thành công các loại vải satanh bằng nguyên liệu tơ tằm. Từ đó, làng Mẹo quê ông ngày nối ngày trở thành một trong số những cái nôi của nghề dệt cả nước.
![]() |
| Nghệ nhân Trần Văn Sen (người thứ 3 từ trái qua) nhận lẵng hoa chúc mừng nhân dịp được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới. |
Thăng trầm và khởi sắc
Cũng như bao thân phận của một doanh nhân đích thực và chân chính, để xã hội thừa nhận và được Nhà nước ta phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới, cuộc đời ông đã phải đổ biết bao mồ hôi, nước mắt; đối mặt với bao thách thức trên thương trường; chịu bao đắng cay và búa rìu dư luận. Có thời điểm, trước những việc làm năng động và táo bạo của ông, có người do thiếu hiểu biết hoặc do động cơ thấp hèn đã viết đơn gửi đến các cấp tố cáo rằng, những việc làm của ông đang đi chệch hướng, trái với đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta.
Rồi lại có thời điểm: Thịnh chưa thành nhưng họa đã đến đòi hỏi những người sản xuất như ông phải ngày đêm vắt óc tìm phương thức chống đỡ. Đó là lúc cơn lũ hàng nhập lậu từ bên kia biên giới ngập tràn thị trường nước ta, đẩy hàng loạt các cơ sở sản xuất trong nước đứng bên bờ vực thẳm của sự phá sản. Nhiều công ty dệt ở nước ta được Nhà nước bảo hộ còn gặp nhiều khó khăn, khốn đốn; huống hồ là cơ sở sản xuất của gia đình nhà ông. Tiếc thay, trong bối cảnh nghiệt ngã ấy, lại xuất hiện những kẻ đứng ngoài tìm cách "đổ thêm dầu vào lửa". Họ được dịp chê bai, chỉ trích, khích bác và coi những việc làm của ông là phiêu lưu, là ném tiền qua cửa sổ, v.v…
Song với bản lĩnh của một nhà doanh nghiệp đã được tôi luyện qua nhiều thử thách và đã từng chịu nhiều oan nghiệt trên thương trường, ông vẫn bình tĩnh và tự tin. Công việc đầu tiên trong những thời điểm ấy của ông là họp các thành viên trong gia đình; tranh thủ ý kiến mọi người, tìm giải pháp để vượt qua cơn bĩ cực. Bản lĩnh của ông dường như bao giờ cũng vậy, cứ mỗi lần như thế lại một lần ông có niềm tin vào những quyết sách của Đảng và Nhà nước trong việc tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các doanh nghiệp.
Quả nhiên, làn gió của công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo cùng các chính sách khuyến khích đầu tư trong nước, phát triển kinh tế nhiều thành phần của Đảng và Nhà nước đã thực sự trở thành cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và doanh nghiệp. Do vậy, sau khi được các đồng chí lãnh đạo Đảng và chính quyền địa phương về thăm, động viên, khích lệ; nghệ nhân Trần Văn Sen đã mạnh dạn xây dựng mô hình sản xuất mới.
Để các sản phẩm của đơn vị mình làm ra có chỗ đứng trên thị trường, cạnh tranh có hiệu quả với hàng ngoại, không có con đường nào khác là phải đầu tư vốn, đổi mới công nghệ, hoàn thiện cơ chế quản lý, nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm. Thời đất nước mở cửa và hội nhập, hàng của Công ty Hương Sen phải có mặt ở thị trường nước ngoài và phải được người nước ngoài ưa chuộng. Chỉ có như vậy doanh nghiệp mới tồn tại và đứng vững trong cơ chế thị trường.
Bao nung nấu trong đầu, bao đêm trăn trở và suy tư, bao chuyến đi khảo sát và tìm kiếm thị trường, người nghệ nhân ấy đã tự đúc rút cho mình một đáp án: Đảng đã cho doanh nghiệp một cơ chế; thành - bại lúc này phụ thuộc vào những tố chất cầm quân của các nhà doanh nghiệp. Tin ở chính mình, tin ở đội ngũ cán bộ, công nhân viên - những người đã gắn bó với ông bao năm, cùng ông lăn lộn, bươn chải trên thương trường; nghệ nhân Trần Văn Sen đã có bước đi đúng hướng trên thương trường.
Từ một xí nghiệp dệt nhuộm, in hoa, đầu năm 1992 được nâng cấp thành Công ty Dệt nhuộm xuất khẩu Hương Sen. Đây là một công ty tư nhân đầu tiên ở tỉnh Thái Bình và cũng là một công ty tư nhân đầu tiên thành lập Chi bộ Đảng và các tổ chức quần chúng như công đoàn, thanh niên, phụ nữ, v.v… Từ thị trấn Hưng Hà, được sự quan tâm của các cấp chính quyền và các ngành chức năng, đại bản doanh của công ty đã chuyển về thành phố Thái Bình.
Sau khi "dời đô" về thành phố, nghệ nhân Trần Văn Sen đã lập phương án mở rộng sản xuất. Đó là việc xây dựng nhà máy bia cao cấp mang tên Hương Sen. Theo ông thì thời đổi mới và hội nhập nếu chỉ dừng lại ở các ngành nghề truyền thống thì lợi nhuận cho doanh nghiệp không nhiều, khả năng nộp ngân sách cho Nhà nước cũng hạn chế! Do vậy bài toán được ông và các thành viên trong gia đình đặt ra vào thời điểm ấy là phải chọn ngành nghề giải quyết được 2 yêu cầu nói trên. Và thế là việc mở rộng ngành nghề sản xuất - kinh doanh sang lĩnh vực bia và các loại nước giải khát là phù hợp.
Đây không chỉ là bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời làm doanh nghiệp của ông mà là một thử thách lớn lao. Thời kỳ đầu khi thấy công ty vay tiền đầu tư xây dựng nhà máy bia cao cấp, nhiều người xem ra rất lo ngại cho ông. Họ cho rằng, một lần nữa, đó là một việc làm không tưởng và phiêu lưu; sớm muộn rồi sẽ chết chìm trong đống nợ tiền vay ngân hàng. Nguy hiểm hơn, tình hình ấy lại rơi vào những tháng ngày Thái Bình đang trong thời điểm mất ổn định. Sản phẩm bia làm ra thương hiệu mới nên khó tiêu thụ trên thương trường. Trong khi các khoản lãi vay ngân hàng mỗi ngày một nối dài thêm. Sức ép của dư luận lại một lần nữa đè nặng lên nghệ nhân Trần Văn Sen. Thêm nữa, ngân hàng đòi rút vốn. Một vài kẻ cơ hội ép ông phải bán nhà máy để trả vốn vay ngân hàng.
Nhưng rồi, chính trong thời điểm nghiệt ngã ấy, một lần nữa ông đã vượt lên để tự khẳng định bước đi của mình là phù hợp với đường lối, công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Đảng và Nhà nước ta. Với sản phẩm bia Đại Việt và các loại nước giải khát do công ty sản xuất trên dây chuyền hiện đại và tự động hóa cao, đã từng bước vươn lên chiếm lĩnh thị trường, đáp ứng được thị hiếu của người tiêu dùng xã hội trong và ngoài nước. Đến nay mạng lưới phân phối bia Đại Việt và các sản phẩm nước giải khát khác do công ty sản xuất đã có mặt ở 63 tỉnh, thành trong cả nước và đã xuất khẩu sang thị trường Mỹ, Nhật Bản,
Cùng với sự phát triển thị trường, quy mô và công suất của nhà máy ngày một mở rộng. Từ chỗ công suất chỉ đạt 5 triệu lít/năm, nay đã đạt trên 100 triệu lít/năm, bao gồm nhiều loại sản phẩm khác nhau: Bia lon, bia chai, trong đó có loại bia chai Super mở nắp không cần khui, một loại sản phẩm độc đáo duy nhất tại Việt Nam. Từ chỗ khi bước vào sản xuất, công ty chỉ nộp ngân sách 136 triệu/năm, đến hết năm 2009, công ty đã nộp ngân sách 187 tỷ đồng, chiếm 50% số tiền nộp ngân sách của khối doanh nghiệp tỉnh Thái Bình. Đời sống thu nhập của người lao động cũng không ngừng được nâng lên.
Với thành tựu nói trên, Công ty Sản xuất kinh doanh - xuất nhập khẩu Hương Sen Thái Bình đã vinh dự được Đảng, Nhà nước, ngành chức năng và tỉnh Thái Bình tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quý. Riêng nghệ nhân Trần Văn Sen cũng đã được trao tặng nhiều phần thưởng cao quý như Huân chương Lao động hạng ba, bằng khen của Thủ tướng, 7 năm liên tục là chiến sĩ thi đua cấp tỉnh… Gần đây nhất, ông vinh dự được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới.
Ước nguyện
Trong buổi tiếp xúc với chúng tôi vào những ngày đầu xuân năm 2010, nghệ nhân, anh hùng Trần Văn Sen không giấu nổi niềm vui và ước vọng của mình. Tuy đã ở tuổi 70, cái tuổi mà người ta thường muốn nghỉ ngơi, song ông vẫn muốn tiếp tục cống hiến, tiếp tục được chứng minh qua những việc mình đã, đang và sẽ làm là phù hợp với đường lối của Đảng và Nhà nước về công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Đó phải chăng là con đường duy nhất để sớm đưa nước ta thoát khỏi nghèo đói và lạc hậu. Là một doanh nhân, ông muốn việc mình làm là để góp phần nâng cao giá trị đích thực của người lao động. Ông cũng ao ước sao cho cuộc sống nơi ông đang sống và người lao động quê ông ngày một tốt đẹp hơn; kinh tế phải gắn liền với đời sống văn hóa, lành mạnh, vui tươi.
Là doanh nhân, ông thấy phải có trách nhiệm với việc đào tạo nghề cho lớp trẻ, quan tâm đến việc bảo vệ môi trường sinh thái. Những chuyến đi khảo cứu ở nước ngoài khiến ông nghĩ rằng, ở Nhật Bản, Singapore, đất họ đâu có rộng, người họ đâu có đông, song ở đó đời sống, môi trường cảnh quan được xếp vào những quốc gia nhất thế giới. Vậy tại sao ở Việt
Trở thành người anh hùng thời đổi mới và hội nhập, xem ra với ông vẫn còn quá nhiều việc mà ông từng ấp ủ và thực hiện
